Tạo bài viết mới...
  1. thaonguyenxanh2811
    thaonguyenxanh2811 17 Tháng mười một 2017 lúc 01:26 tại Thành viên giúp nhau

    Du học sang Nhật học kế toán sau Đại học? chỉ cần lướt xem 1 lần thôi ạ. em cảm ơn

    Chào anh/ chị gia đình kế toán,

    Mọi người đọc chủ đề chắc hơi có ngạc nhiên, em cũng thấy ngợ ngợ và nghĩ là hơn cả mọi người ấy ạ...
    Vì kế toán ít ai du học phải không ạ? Ngoại trừ các giảng viên thôi phải không ạ?
    Em chưa từng định nghĩa từ du học trong đầu từ nhỏ đến giờ, và không bao giờ nghĩ sẽ đi vì lúc trước toàn nghĩ phí tiền bạc và thời gian, và cả không dám vượt qua cái "vùng an toàn" của mình nữa nên cái khái niệm này em thấy nó rất là xa xôi...
    Nhưng giờ em đột nhiên chột dạ và nghĩ đến việc du học Nhật, em thì rất thích Nhật nên nói du học toàn nhắm vào nơi "hoa anh đào" này thôi ạ, và nếu có thể nước khác cũng được: Mỹ, Anh, Pháp hay Đức. :))))
    Em xin chia sẻ đêm khuya chuyện của em và tâm sự của em, mong mọi người từng một thời sinh viên đã qua có thể giúp em cơ nhỡ nhận ra và "tát" vào mặt cho em tỉnh và tìm hướng đi ĐÚNG cho bản thân.
    *** Em mới ra trường được đôi ba tháng năm nay. Từ năm cuối em học đại học đến bây giờ, em có nhiều tham vọng và NHIỀU con đường đi rẽ cho bản thân (trước đây, mọi người cứ hiểu em là một đứa nhút nhát, chỉ biết "mọt sách", cho dù internet cũng vào giải abxyz toán.... hoặc đọc những cái gì về kế toán không hiểu cũng gắng xem - kiểu chứng tỏ là một đứa không bị Internet, cụ thể là Facebook làm lu mờ). Năm cuối bộn bề nhiều thứ, việc học cũng gắng tập trung nhưng không nhiều, chủ yếu làm thêm phục vụ nhà hàng kiếm thật nhiều TIỀN (đó là vấn đề em quan tâm lúc đó), học việc. Ngày qua ngày (tháng 8--)12) em cứ chạy xô như mấy đứa ôn thi đại học. Kỳ 1 ấy em hứa nhất định tiết kiệm được chừng đó (chi tiêu rất kiệm, 1500k/tháng) chuẩn bị cho chuyến du lịch bụi mùa hè năm nay. Tháng 12 là tháng dập em nhất, cả ngày làm ở công ty em thực tập (vì mấy ngày đầu cũng k làm gì nhiều cả nên k đến nỗi...) xong chiều chạy về làm thêm nhà hàng, đến 12h khuya mới về. Vì sợ đi thực tập là không có tiền, ba mẹ phải nuôi nên lại làm thêm kiếm tiền đỡ phần nào. Rồi sau Tết, anh GĐ rất có tình cũng đã bảo em nghỉ việc làm thêm và công ty hỗ trợ em 2500k, và thế là kỳ 2 em lại đi làm công ty + ngày đêm với báo cáo thực tập.
    Tháng 5, lúc mà đỉnh điểm em suy nghĩ kỹ hơn, TIẾNG ANH rất quan trọng và em đã từng đặt mục tiêu nói được cả Tiếng Anh và Tiếng Nhật nhưng chưa hoàn thành được cái nào, em quyết định xin nghỉ làm công ty trước khi ra trường. Ra trường với bằng giỏi, em "thưởng" cho mình chuyến du lịch bụi vì những năm tháng chỉ biết HỌC và KIẾM TIỀN, nhưng mà thực ra là em đang cần thời gian để suy nghĩ về hướng đi của bản thân. Nghiễm nhiên sau chuyến đi này em bị gắn nhãn "thất nghiệp" vì em đã quyết tiếp đi làm thêm phục vụ nhà hàng. Lúc này, bạn bè suy nghĩ v..v.., hàng xóm, họ hàng cười chê, ok em nhận hết (ngoại lệ cũng có vài người em không thích nên em nói đã đi làm). Thật ra, em chỉ muốn phát triển Tiếng Anh khi đi làm ngành này, và em cũng đặc biệt thích cái hay của ngành đang "nổi" này lắm ạ. Nhưng nói vậy thôi chứ, gặp được đôi ba người nói chuyện thôi chứ đâu phải ngày nào cũng gặp, Tiếng Anh lên một trình "Dám mở miệng trò chuyện, tâm sự cùng họ" , em cũng đã bỏ công hơn 3 tháng đi làm mà không được gì anh chị ạ. Bù lại có thêm nhiều mối quan hệ tốt ạ, và thêm kỹ năng mềm.
    Cuối tháng 9/2017, em nghỉ làm thêm và nói quản lý là em phải chuyên tâm vào MỘT Tiếng anh trước đã ạ, thi có bằng TOEIC trước rồi sau là giao tiếp. Anh ấy nói qua làm chỗ mới anh ấy sẽ giúp em thêm Tiếng Anh, nhưng em bây giờ đã quyết đoán, chỉ TIẾNG ANH TIẾNG ANH. Và cho đến bây giờ em vẫn cứ ôn, đến cuối tháng 12 em sẽ thi lấy chứng chỉ TOEIC (mục tiêu em là 800+).
    Em vô tình thoáng qua suy nghĩ du học tối nay và em lại nghĩ mình có nên bước tiếp? - Nếu du học thì em chỉ có thể xin học bổng toàn phần, còn gia đình em thì không có điều kiện rồi ạ.
    Em cảm thấy con người mình không có định hướng gì cả ạ, em không muốn cầm cái bằng ra rồi xin việc đi làm rồi ngày ngày xách lên công ty rồi đi về với cảm giác ê chề, mông lung, không định hướng. Cảm giác như em đang lạc trôi trên đại dương vậy ạ??? Em biết quyết định ở em thôi ạ, em đã từng xin ý kiến, tư vấn của nhiều người rồi ạ, nhưng nó chỉ thoáng qua thôi ạ, toàn bộ do bản thân em quyết định, em tự chọn. Hay là giờ em đang mơ mộng quá, đâm ra nhiều chuyện huyên thuyên? Và em nên nhận cái tát nào đó để tỉnh lại ? Từng muốn làm công ty nước ngoài, giờ lại muốn đi qua đó du học......

    Em cần anh/chị...
    Em chân thành cảm ơn mọi người đã dành thời gian lướt qua tâm sự của em và tư vấn em.
    Cô gái chưa định hình mình là ai? đến trái đất làm gì?
    1. Xem thêm 3 bình luận
    2. thaonguyenxanh2811
      thaonguyenxanh2811
      Da em chào anh/chi ạ, cảm thấy em mù đường trước con đường phía trước, em suy nghĩ rất nhiều không biết phải thế nào ạ, mong anh/ chị có thể cho... Xem Thêm
    3. hocviecchuaxong
      hocviecchuaxong
      Ko ai khuyên dc ban đâu, con đg của bạn phải do bạn chọn lấy, còn trẻ thì cứ thử thôi.
    4. tieulyhue
      tieulyhue
      Bạn rất can đảm, can đảm nghĩ đến và can đảm thực hiện. Khâm phục bạn tính kiên trì thực hiện kế hoạch. Có công mài sắt có ngày nên kim.
    5. thaonguyenxanh2811
      thaonguyenxanh2811
      Da em cảm ơn chị ạ :)

      Em cũng chưa làm được gì nên hình cả ạ, em chỉ mong nghe được kinh nghiệm và tư vấn của anh chị đi trước ạ.
    6. Lacottrang
      Lacottrang
      Vậy sau khi đã có tiếng anh e sẽ làm gì tiếp theo? Sau khi du học em sẽ làm gì tiếp theo? Mục tiêu của em là gì?
      Khi c là sinh viên năm cuối c có...
      Xem Thêm
    7. Viết trả lời
  2. Phần mềm BRAVO
    Phần mềm BRAVO 20 Tháng mười một 2017 lúc 10:23 tại Thành viên giúp nhau

    Cách viết giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước theo mẫu C1-02/NS

    Nộp tiền vào ngân sách nhà nước có 2 hình thức: nộp trực tiếp tại địa điểm thu ngân sách hoặc nộp qua mạng.
    Xem chi tiết mẫu và cách viết giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước theo mẫu C1-02/NS tại file đính kèm.

    Các file đính kèm:

    1. tieulyhue thích bài này.
    2. Viết trả lời
  3. trinhduykhanh02091991
    trinhduykhanh02091991 4 Tháng mười một 2017 tại Tin học văn phòng

    Lỗi Excel???

    các bạn ơi Cho mình hỏi: cách khắc phục lỗi "cannot shift objects off sheet" trong excel khi sort & filter. thanks nhieu
    1. Xem thêm 2 bình luận
    2. trinhduykhanh02091991
      trinhduykhanh02091991
      mình bỏ hide rồi mà ko đc bạn ơi
    3. trinhduykhanh02091991
      trinhduykhanh02091991
      oh chỗ đính kèm file lên webketoan ở mục nào bạn nhỉ??
    4. Kin7
    5. Kaspersky
    6. rchato
      rchato
      Bạn upload lên mediafire ấy, rồi copy link gửi trở lại đây là được.
    7. Viết trả lời
  4. hạt tiêu đen
    hạt tiêu đen 25 Tháng chín 2017 tại Ứng dụng Excel

    Thắc mắc excel

    Chào mọi người ạ. Hiện tại mình có 1 file excel theo dõi công nợ khách hàng, nhưng trong file đó là tổng hợp tất cá các khách hàng của Cty mình. Bây giờ mỗi khách hàng đều yêu cầu gửi mail cho họ về tình hình công nợ của họ nhưng mình ko thể 1 lúc gửi cho họ hết 1 file tổng hợp khách hàng của mình ddc. Mọi người có thể chỉ mình cách tách dữ liệu từng khách hàng với ko ạ? mình xin cảm ơn mọi người!
    1. Xem thêm 21 bình luận
    2. Kin7
      Kin7
      Ko bác.
      Em ko thích nhanh gọn.
      Em thích sự thông minh và hợp lý.
    3. Kin7
      Kin7
      Làm như này gặp vấn đề nản lắm.
    4. Trần Đức Nguyên
      Trần Đức Nguyên
      Cái này nếu bạn biết về VBA thì có thể làm tự động được.
    5. rchato
      rchato
      Bác nào cần thì pm em lập trình chạy web cho tự động tính cho các bác luôn. Cho mình cái định dạng chuẩn bao gồm: Cột email, và các thông số cần... Xem Thêm
    6. NHANQT
      NHANQT
      Làm excel cực cái vậy muốn chi tiết phải sang lọc dữ lieu vất vả mất nhiều thời gian. Xài phần mềm chỉ cần chọn đối tượng xuất excel hoặc PDF rồi... Xem Thêm
    7. Viết trả lời
  5. thuyvanpham88
    thuyvanpham88 4 Tháng một 2017 tại Lao động tiền lương

    Cách điền báo cáo tình hình sử dụng lao động nước ngoài

    Mình đang làm báo cáo tình hình sử dụng lao động nước ngoài, Mẫu số 14: Ban hành kèm theo Thông tư số 40/2016/TT-BLĐTBXH .
    Có phần thông tin in đậm bên dưới mình không biết điền như thế nào. Bạn nào có kinh nghiệm chỉ mình với. Có phải điền thông tin của cty mình không?

    BÁO CÁO TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI

    Kính gửi:
    (Thông tin về doanh nghiệp/tổ chức: tên doanh nghiệp/tổ chức, địa chỉ, điện thoại, fax, email, website, giấy phép kinh doanh/hoạt động, lĩnh vực kinh doanh/hoạt động, người đại diện của doanh nghiệp/tổ chức để liên hệ khi cần thiết (số điện thoại, email)
    Báo cáo tình hình tuyển dụng, sử dụng và quản lý người lao động nước ngoài của (tên nhà thầu) như sau:
    1. (Thông tin về nhà thầu gồm: tên nhà thầu, địa chỉ đăng ký tại nước hoặc vùng lãnh thổ nơi nhà thầu mang quốc tịch, số điện thoại, fax, email, website, giấy phép thầu, địa chỉ chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc văn phòng điều hành tại Việt Nam, giấy phép thầu, thời gian thực hiện gói thầu).
    2. Số liệu về người lao động nước ngoài của nhà thầu (có bảng số liệu kèm theo)
    3. Đánh giá, kiến nghị (nếu có).
    1. Xem thêm 20 bình luận
    2. thuytrang89kt
      thuytrang89kt
      1. Cột số (3) : Lũy kế từ đầu năm : Tính từ đầu năm 2017 đó bạn à
      2. Cột số (6) : Lương bình quân tính theo tháng nha bạn
    3. hiennt126
      hiennt126
      Nhưng bạn ơi, ví dụ trong quý II bên mình có người hàn sang, sau đó làm được mấy hôm thì về nước (phát sinh trong quý II, sau đó cũng về trong quý... Xem Thêm
    4. JON AKA
      JON AKA
    5. hiennt126
      hiennt126
      Gửi cả nhà. Theo thông tư 40 thì Doanh nghiệp không phải nộp báo cáo tình hình sử dụng người lao động nước ngoài nữa nhé. Chỉ có nhà thầu mới... Xem Thêm
    6. Mỹ Dung Nguyễn
      Mỹ Dung Nguyễn
      Hi Bạn,

      gửi giúp mình qua email : nguyenmydungktkt@gmail.com với nhé, mình cũng đang gặp vấn đề khi khai báo cáo. Rất mong bạn hỗ...
      Xem Thêm
    7. Viết trả lời
  6. lapbitas
    lapbitas 15 Tháng mười một 2017 lúc 18:58 tại Ứng dụng Excel

    Sao cộng 2 số trên excel lại ra kết quả =0

    Nhờ các bác giải thích giúp mình trường hợp này ( lần đầu tiên mình gặp trường hợp oái oăm thế này)
    ( file đính kèm)
    =D70+D100 ra kết quả =0

    Các file đính kèm:

    1. Xem thêm 1 bình luận
    2. hocviecchuaxong
      hocviecchuaxong
      Bỏ công thức trong mã số 321 Dự phòng ngắn hạn đi là được bạn
    3. lapbitas
    4. loan90
      loan90
      @lapbitas Hi bạn, đây là bài tập hay thực tế vậy bn. Nếu thực tế mình hỏi chút nha. TS vô hình là gì vậy bạn, tính sao vậy.... Xem Thêm
    5. hocviecchuaxong
      hocviecchuaxong
      - 213: TSCĐ vô hình là tài sản không có hình thái vật chất, nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong SXKD,... Xem Thêm
    6. rchato
      rchato
      Tài sản vô hình là những tài sản không rờ được, không nắm được nhưng sử dụng được và có giá trị. Ví dụ phần mềm kế toán, phần mềm office, word,...... Xem Thêm
    7. Viết trả lời
  7. cachupi
    cachupi 18 Tháng mười một 2017 lúc 10:26 tại Tin học văn phòng

    Làm sao để có đuôi .XLSB

    Hiện tại mình đang dùng excel 2007. Mình muốn lưu file dưới dạng .XLSB nhưng máy mình tìm không có đuôi này hiển thị ra tại mục save as type. Thế phải làm như thế nào
    1. hocviecchuaxong
      hocviecchuaxong
      Bạn chọn trong phần type as" Excel Binary Work Book"
    2. cachupi
    3. rchato
      rchato
      Cái lúc lưu chọn trong phần định dạng file là được nhé.
    4. Viết trả lời
  8. depedro
    depedro 6 Tháng năm 2008 tại Ứng dụng Excel

    Cần file Excel in hoá đơn tài chính trên máy in kim?

    Ai có file .exl in hoá đơn tài chính trên máy in kim cho em xin với :mrstraetz:mrstraetz:mrstraetz:mrstraetz:mrstraetz:mrstraetz:mrstraetz
    Vừa mới mua máy các bác ạ , căn mãi hok được mà không dám thử trên HĐTC :004::004: nên dùng cách này : di xin :036:
    1. Xem thêm 51 bình luận
    2. nguyentrang13993
      nguyentrang13993
      Dạ, ý em là muốn xin file làm cơ sở trước từ đó em sẽ tự điều chỉnh theo mẫu HĐ bên em ạ
    3. kế toán HT
      kế toán HT
      cả nhà cho e hỏi công ty e đang định mua máy in về in hóa đơn vs phiếu xuất kho thì cần form mẫu in như thế nào với lại công ty e còn mấy chục... Xem Thêm
    4. Kin7
      Kin7
      Bạn nên suy nghĩ trc khi đặt câu hỏi.
    5. Hằng NA
      Hằng NA
      Anh/Chị cho em xin file excel in hóa đơn bằng máy in kim với ạ , em cảm ơn
      Mail em là : nguyenhangdl95@gmail.com
    6. Hằng NA
      Hằng NA
      Anh/Chị cho em xin file excel in hóa đơn bằng máy in kim với ạ , em cảm ơn
      Mail em là : nguyenhangdl95@gmail.com
    7. Viết trả lời
  9. bichvan.tax06
    bichvan.tax06 18 Tháng mười một 2017 lúc 08:05 tại Lao động tiền lương

    Tài liệu: File thống kê " Hồ sơ cần chuẩn bị cho thanh tra liên ngành "

    Dear All,

    Vân gửi tặng thành viên File Excel thống kê Hồ sơ cần chuẩn bị cho thanh tra/kiểm tra về:

    1. HỒ SƠ CẦN CHUẨN BỊ CHO VIỆC THANH TRA/KIỂM TRA DOANH NGHIỆP THỰC HIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG, TIỀN LƯƠNG, BHXH, AN TOÀN & VSLĐ; MÔI TRƯỜNG VÀ PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY

    2. HỒ SƠ CẦN CHUẨN BỊ VỀ THANH TRA/KIỂM TRA CHẤP HÀNH CÁC NỘI DUNG TRONG GCN ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG THEO GIẤY PHÉP CHUYÊN NGÀNH

    3.HỒ SƠ CẦN CHUẨN BỊ THANH TRA/KIỂM TRA VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH TRONG SX, KD THỰC PHẨM CHỨC NĂNG

    Tải File Excel bên dưới đính kèm.

    Trân trọng,

    Các file đính kèm:

  10. Thanh Nam
    Thanh Nam 19 Tháng mười 2017 tại Diễn đàn và thành viên

    Cách đính kèm file vào bài viết

    Để đính kèm file vào bài viết:

    -Cách 1:Thành viên có số lượng bài viết nhất định sẽ được cấp quyền attach file trực tiếp. Lưu ý dung lượng attach trực tiếp không nhiều.

    View attachment 18971

    -Cách 2: dùng công cụ upload file hỗ trợ:
    +Công cụ của wkt: www.4wkt.net , vào link này và attach file, sau đó copy link vào bài viết
    Lưu ý dung lượng tối đa 100MB và chỉ upload các loại file có đuôi zip, rar, jpg, gif....
    View attachment 18972

    +Hoặc dùng các công cụ khác như mediafire, fpt drive...để upload và copy link và bài viết

    Các file đính kèm:

    1. bichvan.tax06
      bichvan.tax06
      Em cảm ơn Sếp Nam, gà qué quá em chỉ biết mỗi cách 1
    2. vi ngot doi moi
      vi ngot doi moi
      Cho em hỏi là mình muốn tìm bài viết tương tự trên webketoan thì mình làm sao ạ ?
    3. phantuannam
      phantuannam
      Bạn sử dụng chức năng tìm kiếm với các từ khóa mà bạn cần tìm là ra vì WKT có tích hợp công cụ tìm kiếm của google tìm insite nên sẽ ra ngay :)
    4. Viết trả lời
  11. congcuong
    congcuong 4 Tháng mười 2017 tại Giải pháp doanh nghiệp

    Cần 1 phần mềm kế toán cho DN nhỏ trong lĩnh vực xây dựng

    Đối với DN nhỏ trong lĩnh vực xây dựng, cụ the là hoàn thiện công trình xây dựng
    Theo các bạn thì nên sử dụng phần mềm nào tot nhất
    1. Xem thêm 1 bình luận
    2. notrinos
      notrinos
      Bạn vào đây xem thử demo phần mềm của mình reccle.net
      Thú thật là phần mềm mới viết xong nên...
      Xem Thêm
    3. Huongq Nguyen
      Huongq Nguyen
      Dùng misa đi tuy chi phí ban đầu cao nhưng hỗ trợ và bảo trì oke hơn fast
    4. ĐĐức Tài
      ĐĐức Tài
      bạn có thể tham khảo misa hoặc fast. mình đang dùng misa và thấy rất ok. nếu bạn cần có thể liên hệ bạn này bên misa 0901 770 336
    5. binhminhsom
      binhminhsom
      Bạn có thể liên hệ tới các nhà cung cấp phần mềm để được demo sản phẩm, từ đó lựa chọn PM nào phù hợp với mô hình và khả năng tài chính của mình.... Xem Thêm
    6. bms360
      bms360
      Chưa rõ ý muốn của bạn là muốn sử dụng phần mềm kế toán, nếu bạn muốn 1 phần mềm kê khai và quản lý toàn bộ chứng từ kế toán theo quy định thì bạn... Xem Thêm
    7. Viết trả lời
  12. Út Nhỏ
    Út Nhỏ 17 Tháng mười một 2017 lúc 17:06 tại Bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp

    Thủ tục hồ sơ xin tiếp tục đóng BHXH của DN

    HELP ME, ĐỪNG BƠ EM.
    Anh (chị) cho em hỏi, hôm nay em qua BHXH huyện xin tiếp tục đóng BHXH, chẳng là bên em không đóng BHXH từ năm 2015 đến nay.
    Bây giờ sếp em yêu cầu làm hồ sơ xin tiếp tục đóng ạ, mà em lên hỏi thủ tục gồm: lộ trình đóng tiền và lộ trình chuyển tiền. Em cũng hỏi xin mẫu mà ngta bảo không có, em lên gu gồ thần trưởng cũng không có.
    Anh ( chị) nào biết thì giúp e với.
    1. phantuannam
      phantuannam
      Trước hết bạn cần phải rà soát lại cả quá trình tham gia BHXH của đơn vị:
      - Lao động: tăng giảm lao động, lao động hiện thời ra sao
      - Quá trình...
      Xem Thêm
    2. Viết trả lời
  13. DuongLanVi
    DuongLanVi 19 Tháng mười một 2017 lúc 16:52 tại Thành viên giúp nhau

    Mở rộng cơ sở thuế: Những vấn đề lý luận và thực tiễn

    Số thu từ thuế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó cơ sở thuế là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất. Bài viết giới thiệu vắn tắt những vấn đề lý luận về cơ sở thuế và đề xuất một số nội dung cụ thể nhằm mở rộng cơ sở thuế của Việt Nam, trong đó tập trung chủ yếu vào đề xuất giảm đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng, mở rộng đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và thu hẹp diện ưu đãi thuế.

    [​IMG]


    Những vấn đề lý luận về cơ sở thuế

    Tầm quan trọng của cơ sở thuế

    Cơ sở thuế là yếu tố phản ánh phần thu nhập, giá trị tài sản hoặc giá trị của hàng hóa, dịch vụ được sử dụng để xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế (NNT). Chẳng hạn như, thu nhập tính thuế là cơ sở thuế thu nhập cá nhân, giá trị của tài sản là cơ sở thuế tài sản…


    Trừ trường hợp số thuế phải nộp được xác định trên cơ sở mức thuế tuyệt đối, số thuế phải nộp của NNT được xác định bằng cơ sở thuế nhân với thuế suất. Đối với trường hợp áp dụng mức thuế tuyệt đối, cơ sở thuế được xác định theo số lượng, khối lượng và các yếu tố vật lý khác của đối tượng đánh thuế.

    Chẳng hạn như, dựa trên số lít rượu bán ra và nồng độ cồn, dựa trên số lượng xe nhập khẩu và dung tích động cơ của xe nhập khẩu… Điều này cho thấy, xác định đúng đắn cơ sở thuế có vai trò rất quan trọng với Nhà nước.

    Cơ sở thuế rộng hay hẹp, chặt chẽ hay không chặt chẽ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số thuế phải nộp của NNT và số thu ngân sách nhà nước (NSNN). Xác định cơ sở thuế còn phản ánh và hiện thực hóa các quan điểm của mỗi Nhà nước về sử dụng thuế nhằm điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội.

    Vì lẽ đó, trong nhiều năm trở lại đây, các quốc gia rất quan tâm đến việc mở rộng cơ sở thuế và chống xói mòn cơ sở thuế nhằm tạo điều kiện hạ thấp mức thuế mà vẫn đảm bảo số thu cho NSNN.

    Các yếu tố xác định cơ sở thuế

    Cơ sở thuế được xác định dựa trên các yếu tố sau: Xác định phạm vi của đối tượng đánh thuế, miễn thuế, ngưỡng đánh thuế, các khoản giảm trừ khi xác định cơ sở thuế. Cụ thể như sau:


    Việc xác định phạm vi của đối tượng đánh thuế thể hiện sự lựa chọn của mỗi Nhà nước về việc có điều tiết hay không điều tiết một sắc thuế cụ thể với những đối tượng đánh thuế. Chẳng hạn, đối với thuế giá trị gia tăng (GTGT) thì việc xác định danh mục hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế cho thấy, Nhà nước muốn điều tiết thuế GTGT vào những đối tượng nào và cơ sở thuế GTGT rộng hay hẹp.

    Hiển nhiên, danh mục hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế càng rộng thì cơ sở thuế GTGT càng hẹp và ngược lại. Đối với thuế thu nhập cá nhân (TNCN) thì cơ sở thuế rộng hay hẹp phụ thuộc vào việc lựa chọn loại thu nhập chịu thuế.

    Miễn thuế là một trong những hình thức ưu đãi thuế cụ thể, theo đó một phần thu nhập, giá trị tài sản hoặc giá trị hàng hóa không phải đưa vào tính thuế. Mặc dù đối tượng miễn thuế càng rộng thì cơ sở thuế càng hẹp nhưng để đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, các quốc gia vẫn áp dụng miễn thuế cho những đối tượng nhất định trong một số sắc thuế.

    Ngưỡng đánh thuế cũng là yếu tố xác định cơ sở thuế. Ngưỡng đánh thuế là một mức nhất định để xác định phần cơ sở thuế vượt trên nó mới bị đánh thuế. Chẳng hạn như, ngưỡng đánh thuế GTGT và TNCN đối với cá nhân kinh doanh ở Việt Nam hiện nay là 100 triệu đồng/năm nghĩa là phần thu nhập từ kinh doanh của cá nhân vượt trên 100 triệu đồng/năm mới bị đánh thuế TNCN.

    Xác định các khoản giảm trừ cũng là một phần tất yếu của cơ sở thuế. Chẳng hạn như, đối với thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thì việc quy định các khoản chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến phần thu nhập chịu thuế.

    Từ đó, ảnh hưởng đến thu nhập tính thuế; các khoản giảm trừ đóng góp bảo hiểm, giảm trừ gia cảnh… là yếu tố trừ vào thu nhập chịu thuế khi xác định thu nhập tính thuế TNCN…

    Theo thông lệ quốc tế, có hai loại giảm trừ là: (i) Giảm trừ có tính chất kinh tế; (ii) Giảm trừ có tính chất xã hội. Giảm trừ kinh tế là giảm trừ các chi phí tạo ra thu nhập (chi phí liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập đối với TNDN, chi phí trang trải cuộc sống của NNT TNCN - thường quy định giảm trừ cho bản thân NNT và nuôi dưỡng người phụ thuộc của NNT).

    Giảm trừ có tính chất xã hội là giảm trừ cho các khoản đóng góp của NNT cho các hoạt động từ thiện, nhân đạo… Riêng đối với thuế TNCN, việc giảm trừ có tính chất kinh tế có thể áp dụng một trong hai lựa chọn là giảm trừ tiêu chuẩn (mức giảm trừ cho mọi NNT như nhau) và giảm trừ gia cảnh (giảm trừ cho bản thân NNT và giảm trừ người phụ thuộc).

    Tác động của mở rộng cơ sở thuế và sự lựa chọn chính sách

    Cơ sở thuế rộng có tác động quan trọng đến việc đảm bảo số thu cho NSNN. Tuy vậy, cũng như nhiều sự quyết định quản lý khác, việc mở rộng cơ sở thuế cũng có tác động 2 mặt cần cân nhắc kỹ lưỡng. Cụ thể như sau:


    Mở rộng cơ sở thuế có tác động tích cực trên nhiều phương diện. Tác động tích cực nhất của mở rộng cơ sở thuế là tạo nền tảng đảm bảo thu NSNN bền vững trong khi vẫn có thể hạ thấp thuế suất. Điều này có nghĩa là mở rộng cơ sở thuế có tác động phân bổ lại gánh nặng thuế giữa các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế.

    Trong khi chuyển sang đánh thuế vào những chủ thể chưa thu thuế trước đó thì mở rộng cơ sở thuế cho phép giảm mức thu thuế vào những đối tượng đã đánh thuế trước đó. Chính từ việc giảm thuế suất giúp làm giảm tác động của thuế đến những quyết định kinh tế, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế và năng suất của nền kinh tế (John Freebairn, 2015).

    John Freebairn (2015) cũng cho rằng, mở rộng cơ sở thuế giúp hệ thống thuế đáp ứng tốt hơn tiêu chí công bằng theo chiều ngang. Điều này hàm ý rằng, khi mở rộng cơ sở thuế thì những trường hợp trước đó mặc dù có cùng điều kiện hoàn cảnh như những đối tượng phải chịu thuế khác nhưng chưa phải trả thuế sẽ phải chuyển sang trả thuế.

    Chẳng hạn như, nếu chuyển đối tượng “máy móc chuyên dùng nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho nghiên cứu khoa học loại trong nước chưa sản xuất được”, từ đối tượng không chịu thuế GTGT sang đối tượng chịu thuế GTGT thì sẽ đảm bảo tính công bằng trong nghĩa vụ thuế giữa những người sử dụng các loại máy móc khác nhau cho mục đích nghiên cứu khoa học.

    Robert A. Pierce và Carol D. Peacock (1986) cho rằng, mở rộng cơ sở thuế tiêu dùng giúp các sắc thuế phụ thuộc nhiều vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Điều này là hiển nhiên vì thuế tiêu dùng không phụ thuộc vào hiệu quả của nền kinh tế mà phụ thuộc vào quy mô tiêu dùng của nền kinh tế.

    Tăng trưởng kinh tế luôn gắn với tăng quy mô tiêu dùng, kể cả xuất khẩu và tiêu dùng nội địa. Bởi vậy, cơ sở thuế tiêu dùng được mở rộng sẽ giúp đảm bảo số thu ổn định hơn, kể cả trong trường hợp hiệu quả của nền kinh tế không đạt như kỳ vọng.

    Tuy vậy, vẫn có những khía cạnh được cho là mặt trái của mở rộng cơ sở thuế cần cân nhắc kỹ lưỡng khi thực hiện những sự thay đổi pháp luật nhằm mở rộng cơ sở thuế. Cụ thể: Tác động không muốn đầu tiên khi mở rộng cơ sở thuế là khả năng làm cho hệ thống thuế giảm mức độ đáp ứng về tính công bằng theo chiều dọc.

    Tsui Nga Ni (2007) cho rằng, mở rộng cơ sở thuế đối với thuế tiêu dùng là hợp lý vì ai cũng cần tiêu dùng nên mỗi người phải trả thuế theo mức độ tiêu dùng của mình; tuy nhiên, trong trường hợp này gánh nặng thuế sẽ đẩy sang cho người nghèo nhiều hơn.

    Đây chính là vấn đề phải cân nhắc khi mở rộng cơ sở thuế tiêu dùng, đặc biệt là mở rộng cơ sở thuế đối với loại thuế đánh vào hầu hết hàng hóa, dịch vụ là thuế GTGT. Thêm vào đó, việc mở rộng cơ sở thuế thu nhập bằng cách thu hẹp miễn thuế đối với những đối tượng xã hội nhất định cũng gia tăng gánh nặng thuế đối với người có thu nhập thấp. Điều này cho thấy, khi lựa chọn mở rộng cơ sở thuế cần có các giải pháp đồng bộ để xử lý vấn đề công bằng trong đánh thuế bằng cách điều chỉnh thuế suất các sắc thuế khác và chính sách chi ngân sách.

    Như đã phân tích, việc xác định cơ sở thuế gắn với phạm vi đối tượng đánh thuế và không đánh thuế, xác định ngưỡng đánh thuế và chính sách miễn thuế. Chẳng hạn như, miễn thuế đối với phần thu nhập từ hoạt động kinh doanh dành riêng cho người khuyết tật có mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các cơ sở kinh doanh sử dụng lao động là người khuyết tật; miễn thuế cho phần thu nhập từ sản phẩm trong thời kỳ sản xuất thử nghiệm có mục tiêu thúc đẩy cơ sở kinh doanh đầu tư cho nghiên cứu phát triển…

    Việc mở rộng cơ sở thuế bằng cách xóa bỏ những trường hợp miễn thuế trên có thể ảnh hưởng đến những chính sách kinh tế - xã hội nhất định của Nhà nước, bởi vậy, cần cân nhắc kỹ lưỡng tổng thể nhiều mặt khi mở rộng cơ sở thuế.

    Mở rộng cơ sở thuế trong điều kiện Việt Nam hiện nay

    Trên cơ sở hiện trạng của hệ thống pháp luật thuế hiện hành, điều kiện cụ thể của đất nước trong giai đoạn hiện nay và dự báo trong thời gian sắp tới, để mở rộng cơ sở thuế một cách hợp lý nhằm vừa đảm bảo số thu cho NSNN, lại vừa sử dụng thuế như một công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô hiệu quả, có thể nghiên cứu mở rộng cơ sở thuế đối với một số loại thuế hiện hành ở Việt Nam.

    Mở rộng cơ sở thuế tiêu dùng

    Ngoại trừ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, cả 3 sắc thuế tiêu dùng hiện hành của Việt Nam đều còn dư địa để mở rộng cơ sở thuế. Cụ thể như sau:


    - Về thuế GTGT: Cơ sở thuế GTGT hiện hành của Việt Nam bị thu hẹp khá nhiều do có tới 25 nhóm hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT. So với thông lệ quốc tế (thường từ 4 đến 8 nhóm), số lượng hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT như vậy là quá nhiều.

    Tất nhiên, quy định này nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước đối với một số lĩnh vực nhất định như: một số hàng hóa, dịch vụ rất thiết yếu; sản phẩm của một số lĩnh vực rất khó khăn cần tạo điều kiện phát triển…

    Tuy nhiên, với danh mục đối tượng không chịu thuế GTGT rộng không chỉ làm thu hẹp cơ sở thuế, mà còn có những tác động không tốt khác như: Làm đứt đoạn tính liên hoàn của thuế GTGT và làm méo mó các quyết định kinh doanh, bởi lẽ theo quy định hiện hành cơ sở kinh doanh không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ sử dụng để sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT. Điều này dẫn đến việc “chuyển” nghĩa vụ thuế từ đối tượng này sang đối tượng khác.

    Chẳng hạn, với việc chuyển phân bón từ đối tượng chịu thuế GTGT sang nhóm không chịu thuế GTGT có tác động chuyển nghĩa vụ thuế từ người sử dụng phân bón (tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp) sang các cơ sở sản xuất phân bón, vì khi đó những cơ sở này không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào của các hàng hóa, dịch vụ… sử dụng để sản xuất phân bón.

    Vì những lý do trên, trong thời gian tới cần nghiên cứu thu hẹp đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT. Theo đó, chỉ nên giữ lại đối tượng không chịu thuế GTGT đối với các hàng hóa, dịch vụ sau: (i) Hàng hóa, dịch vụ khó xác định GTGT như dịch vụ cấp tín dụng, kinh doanh chứng khoán…; (ii) Hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước trả tiền, chẳng hạn như: vũ khí, khí tài phục vụ quốc phòng, an ninh; phát sóng phát thanh truyền hình bằng nguồn vốn NSNN; (iii) Hàng hóa, dịch vụ thực chất không nhằm mục đích kinh doanh vì lợi nhuận; (iv) Hàng hóa, dịch vụ của những công đoạn khó quản lý thuế, chẳng hạn như sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản do người sản xuất trực tiếp bán ra.

    Khi thu hẹp đối tượng không chịu thuế GTGT như đề xuất cần sử dụng công cụ khác để thực hiện chính sách xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Theo đó, để giải quyết chính sách xã hội với những đối tượng nhất định nên điều chỉnh các chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ tín dụng gắn với trợ giúp kỹ thuật, đầu tư vào kết cấu hạ tầng nhằm tạo thuận lợi cho môi trường sản xuất, kinh doanh…

    - Về thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB): Có thể nghiên cứu bổ sung vào đối tượng chịu thuế TTĐB đối với một số hàng hóa, dịch vụ sau: Điện thoại di động, camera, nước hoa, mỹ phẩm, dịch vụ kinh doanh game, dịch vụ thẩm mỹ.

    Nước hoa và dịch vụ thẩm mỹ nên được bổ sung vào diện chịu thuế TTĐB, vì loại hàng hóa, dịch vụ này thuộc nhóm khá cao cấp, qua đó, giúp mở rộng điều tiết thuế vào thu nhập của một bộ phận dân cư có thu nhập từ mức khá trở lên. Đối với các hàng hóa, dịch vụ còn lại trong đề xuất trên tuy không phải là hàng hóa, dịch vụ cao cấp song cũng không phải là hàng hóa, dịch vụ rất thiết yếu, cần phải đưa vào diện chịu thuế TTĐB để hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng hợp lý.

    Trong đó, điện thoại di động tuy là hàng hóa thiết yếu phục vụ nhu cầu thông tin liên lạc nhưng đưa vào diện chịu thuế TTĐB để điều tiết thu nhập của một bộ phận dân cư có thu nhập từ khá trở lên, có nhu cầu và khả năng thu nhập thường xuyên sử dụng các sản phẩm thế hệ mới.

    - Về thuế bảo vệ môi trường (BVMT): Trong thời gian tới, có thể nghiên cứu bổ sung vào diện chịu thuế BVMT đối với pin, ắc quy, các loại thuốc bảo quản thực vật, vì đây là những hàng hóa mà quá trình sản xuất và sử dụng gây ô nhiễm môi trường, cần đánh thuế BVMT để hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng hợp lý.

    Ngoài ra, cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, cần tiếp tục khảo sát để đánh giá và bổ sung vào diện chịu thuế BVMT những mặt hàng khác mà quá trình sản xuất và tiêu dùng gây hại cho môi trường nhưng không thể hoặc quá tốn kém, khi đo lường chất gây ô nhiễm môi trường.

    Mở rộng cơ sở thuế thu nhập

    - Về thuế TNDN: Theo quy định pháp luật hiện hành, đối tượng ưu đãi thuế TNDN (Thu nhập miễn thuế, thuế suất ưu đãi và các đối tượng được miễn thuế, giảm thuế có thời hạn) khá rộng nhằm cả mục tiêu điều tiết kinh tế và chính sách xã hội.


    Trong thời gian tới, cần nghiên cứu thu hẹp diện ưu đãi thuế TNDN. Theo đó, nên bỏ ưu đãi vì mục tiêu xã hội trong chính sách thuế TNDN. Đồng thời, rà soát và chỉ giữ lại ưu đãi thuế TNDN vì mục tiêu điều tiết và phân bổ nguồn lực kinh tế đối với những trường hợp đặc biệt có ý nghĩa quan trọng cho phát triển kinh tế.

    Các chính sách xã hội nên được thực hiện bằng các công cụ kinh tế khác để vừa mở rộng cơ sở thuế, vừa đảm bảo tính đơn giản nhằm tạo điều kiện nâng cao hiệu quả quản lý thuế.

    - Về thuế TNCN: Có hai vấn đề quan trọng cần làm để mở rộng cơ sở thuế TNCN: (i) Nghiên cứu giảm bớt một số khoản thu nhập được trừ không tính vào thu nhập chịu thuế và các khoản thu nhập miễn thuế để vừa mở rộng cơ sở thuế vừa đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập. (ii) Nên duy trì mức giảm trừ gia cảnh hiện nay trong một thời gian thích hợp trong tương lai.

    Việc điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh trong thời gian tới khi đáp ứng điều kiện theo quy định của Luật Thuế TNCN nên theo hướng mở rộng phạm vi điều tiết sang người có thu nhập trung bình gắn với điều chỉnh biểu thuế để gánh nặng thuế không dồn quá nhiều vào nhóm dân cư có thu nhập trung bình khá.

    Cần lưu ý rằng, mức giảm trừ bản thân NNT phổ biến mà các nước áp dụng chỉ bằng khoảng 0,5 lần đến 1 lần GDP bình quân đầu người theo ngang giá sức mua. Trong khi đó, mức giảm trừ bản thân hiện nay của Việt Nam tương đương 2,7 lần GDP bình quân đầu người danh nghĩa và bằng khoảng 1,4 lần GDP đầu người ngang giá sức mua.

    Mở rộng cơ sở thuế tài sản

    Dư địa mở rộng cơ sở thuế tài sản hiện nay ở Việt Nam chủ yếu nằm ở thuế đối với bất động sản. Theo đó, hiện nay Việt Nam mới đánh thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế sử dụng phi nông nghiệp mà chưa đánh thuế đối với nhà và công trình kiến trúc trên đất (bất động sản). Việc nghiên cứu đánh thuế bất động sản với một ngưỡng miễn thuế nhất định để không đánh thuế vào người có thu nhập thấp là một khả năng nên xem xét mở rộng cơ sở thuế tài sản.

    Kết luận

    Để mở rộng cơ sở thuế cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện nội dung các sắc thuế trong hệ thống thuế. Trong đó, mở rộng đối tượng đánh thuế trên cơ sở cắt bớt danh mục hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT; bổ sung một số hàng hóa, dịch vụ vào diện chịu thuế TTĐB, thuế BVMT và thu hẹp diện ưu đãi thuế của các sắc thuế là những nội dung có ý nghĩa quan trọng tác động đến khả năng mở rộng cơ sở thuế.


    Tuy nhiên, cùng với việc mở rộng cơ sở thuế, cần nghiên cứu điều chỉnh các chính sách kinh tế - xã hội khác nhằm khỏa lấp những khoảng trống mà chính sách thuế bỏ lại khi điều chỉnh để mở rộng cơ sở thuế, đồng thời, cần tăng cường chống xói mòn cơ sở thuế.

    Theo đó, trong thời gian tới Việt Nam nên nghiên cứu để cụ thể hóa và áp dụng những khuyến nghị của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế trong BEPS. Đặc biệt, cần chú trọng đến việc sửa đổi các quy định pháp luật để đảm bảo tính minh bạch và giảm bớt các trường hợp ngoại lệ, giảm bớt các quy định giao quyền cho cơ quan hành pháp hướng dẫn thi hành.

    Việc nâng cao hiệu quả ứng dụng kỹ thuật quản lý rủi ro vào mọi hoạt động quản lý thuế trong bối cảnh tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính thuế cũng là một yêu cầu thiết yếu để vừa chống xói mòn cơ sở thuế, vừa tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi.

    Tài liệu tham khảo:

    1. John Freebairn (2015), Income tax reform: Base Broadening to Fund Lower Rates, University of Melbourne;

    2. OECD (2013), Action plan on base erosion and profit shifting, OECD Publishing;

    3. Robert A. Pierce and Carol D. Peacock (1986), “Broadening the Sales Tax Base: Answering One Question Leads to Others”, Florida State University Law Review, Volume 14, Issue 3;

    4. Tsui Nga Ni (2007), Broadening the Tax Base, taxreform@fstb.gov.hk.

    PGS. TS. Lê Xuân Trường - Học viện Tài chính
    1. phantuannam thích bài này.
    2. Viết trả lời
  14. DuongLanVi
    DuongLanVi 19 Tháng mười một 2017 lúc 16:52 tại Thành viên giúp nhau

    Một số rủi ro về Thuế và cách phòng ngừa khi mua hàng hóa và dịch vụ

    Một số rủi ro về Thuế và cách phòng ngừa khi mua hàng hóa và dịch vụ


    Phàm những điều mà người ta không ngờ, hậu quả của nó xảy ra một cách nghiêm trọng thì được coi là rủi ro. Khi người ta biết mức độ rủi ro cao, thì hành động sẽ trở nên thận trọng. Vấn đề là, thận trọng như thế nào để tránh được rủi ro thì không phải ai cũng biết, nhất là đối với những người mới vào nghề. Bài viết đưa ra một vài chia sẻ, đối với những người quan tâm đến lĩnh vực kế toán. Câu hỏi đặt ra là: Kế toán nhìn nhận vấn đề rủi ro về thuế như thế nào, khi doanh nghiệp (DN) mua các yếu tố đầu vào (gọi tắt là mua hàng)?


    [​IMG]

    Nếu trả lời được câu hỏi này, thì phần nào sẽ biết được cách phòng ngừa rủi ro, nói cách khác là sẽ biết cách thận trọng.

    Trước khi phân tích các yếu tố có thể gây ra những rủi ro về thuế của một nghiệp vụ mua hàng, chúng ta nên hình dung qua về mức độ rủi ro nếu cơ quan thuế bác bỏ chi phí mua hàng của DN. Nếu một nghiệp vụ mua hàng không có đủ chứng từ, nội dung chứng từ không phù hợp, các chứng từ liên quan không ăn khớp nhau, thiếu tính logic, chặt chẽ và đặc biệt là sử dụng hóa đơn bất hợp pháp thì cơ quan thuế có quyền xuất toán các chi phí liên quan đến nghiệp vụ mua hàng trên. Khi đó, DN sẽ bị truy thu thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), và tiền phạt chậm nộp thuế tính từ kỳ phát sinh chi phí đến ngày cơ quan thuế phát hiện theo lãi suất 0,03%/ngày (trước ngày 01/07/2016 mức lãi suất áp dụng cho tiền phạt chậm nộp thuế là 0,05%/ ngày). Trường hợp, DN sử dụng hóa đơn bất hợp pháp thì bị phạt tiền từ 1 đến 3 lần so với giá trị ghi trên tờ hóa đơn.


    Ví dụ, vào tháng 3/2013, một DN mua một lô nguyên vật liệu có giá trị 1 tỷ đồng, Thuế GTGT 10% được khấu trừ là 100 triệu đồng. Tháng 5/2017, Cơ quan thuế vào quyết toán DN này, đã phát hiện bộ chứng từ của lô hàng trên không đầy đủ và thiếu sự logic, số liệu trên các chứng từ không ăn khớp, nói tóm lại, bộ chứng từ có vấn đề. Cơ quan thuế yêu cầu, DN xuất toán chi phí của bộ chứng từ trên. Hậu quả là, DN bị truy thu thuế GTGT mà kế toán đã kê khai khấu trừ 100 triệu đồng. Đồng thời, khi bị xuất toán 1 tỷ đồng chi phí thì lợi nhuận của năm 2013 tăng lên đúng 1 tỷ đồng. Do vậy, tiền thuế TNDN 20% bị truy thu là 200 triệu đồng. Ngoài ra, số ngày cơ quan thuế tính từ kỳ khai thuế GTGT đến ngày bị phát hiện là 1.515 ngày, tiền phạt chậm nộp thuế GTGT là: 1.515 ngày x 0,03% x100 triệu đồng = 45, 45 triệu đồng. Số ngày tính từ kỳ nộp thuế TNDN năm 2013 đến ngày cơ quan thuế phát hiện là 1.245 ngày, tiền phạt chậm nộp thuế TNDN là: 1.245 ngày x 0,03% x 200 triệu đồng = 74, 7 triệu đồng. Như vậy, khi Cơ quan thuế xuất toán chi phí mua nguyên vật liệu của tháng 3/2013 thì tổng số tiền truy thu thuế và nộp phạt mà DN phải nộp là: 100 + 200 + 45,45 + 74,7 = 420, 15 triệu đồng (trong ví dụ này tác giả không tính mức lãi suất phạt chậm nộp 0,05%/ ngày áp dụng trước ngày 01/07/2016, nếu tính cẩn thận như vậy thì sẽ dài dòng và phức tạp hơn, số tiền phạt chậm nộp sẽ lớn hơn). Trong trường hợp tệ hại hơn, nếu tờ hóa đơn trên là hóa đơn bất hợp pháp (hoá đơn không đăng ký phát hành hoặc mua của DN bỏ trốn) thì mức phạt sẽ nghiêm trọng hơn. Theo quy định hiện nay, số tiền phạt mà DN phải nộp về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, sẽ dao động trong phạm vi từ 1 đến 3 lần giá trị ghi trên tờ hóa đơn, tức là DN phải nộp phạt từ 1 đến 3 tỷ đồng.

    Qua ví dụ trên, bạn đọc đã hình dung được phần nào mức độ rủi ro của một nghiệp vụ mua hàng. Vậy chúng ta phải làm gì để bảo vệ được với Cơ quan Thuế về những chi phí đã phát sinh là có thật và không bị xuất toán?

    Tất cả chúng ta ai cũng biết, hoạt động mua các yếu tố đầu vào của DN đều phải thể hiện trên bộ chứng từ. Theo lẽ thông thường, nếu hoạt động mua của DN là có thật thì bộ chứng từ hiển nhiên sẽ được Cơ quan Thuế công nhận và do đó không có rủi ro về thuế. Điều này chưa hẳn đã đúng. Tại sao lại như vậy? Để trả lời câu hỏi này, trước hết kế toán cần phải biết: Muốn bảo vệ với cơ quan Thuế về một nghiệp vụ mua hàng của DN là có thật thì bộ chứng từ phải bao gồm những gì? Trên thực tế, không phải ai cũng biết. Có những người cho rằng: Khi mua hàng chỉ cần có tờ hóa đơn GTGT với đầy đủ chữ ký và con dấu của người bán, là đủ điều kiện cho kế toán hạch toán vào chi phí được trừ. Điều này cũng không đúng. Kế toán nên nhớ rằng, điều kiện trước tiên để bảo vệ với cơ quan thuế về một nghiệp vụ mua hàng trong nước là có thật thì phải có một bộ chứng từ đầy đủ gồm:

    1- Hợp đồng, Phụ lục Hợp đồng và Thanh lý Hợp đồng (nếu có).

    2- Có hóa đơn chứng từ hợp pháp.

    3- Có chứng từ thanh toán (Phiếu thu nếu thanh toán bằng tiền mặt có giá trị nhỏ hơn 20 triệu đồng, nếu lớn hơn 20 triệu đồng thì không được thanh toán bằng tiền mặt).

    4- Biên bản bàn giao vật tư, hàng hóa (đối với DN thương mại), Biên bản nghiệm thu công trình (đối với DN xây dựng), Biên bản nghiệm thu khối lượng dịch vụ hoàn thành (đối với DN cung cấp dịch vụ).

    5- Các chứng từ liên quan đến việc mua bán khác như: Hóa đơn chi phí vận chuyển, chi phí bốc dỡ, chi phí lắp đặt chạy thử (nếu có), phí cầu đường,...

    Ngoài ra DN còn có thể bổ sung thêm các chứng từ như: Phiếu xuất kho, Phiếu nhập kho có ghi rõ số lượng, chủng loại từng mặt hàng hoặc Bản kê chi tiết số lượng, chủng loại từng mặt hàng.

    Như vậy, câu hỏi đơn giản nhất đã được trả lời. Qua câu hỏi này, tác giả muốn gửi tới những bộ phận, cá nhân liên quan tới việc mua các yếu tố đầu vào cho DN một thông điệp rằng: “Hãy lấy nhiều nhất có thể các chứng từ của người bán”.

    Câu hỏi thứ hai đặt ra là: Nếu một nghiệp vụ mua hàng đã có đầy đủ chứng từ liên quan thì kế toán có bảo vệ được với Cơ quan thuế về chi phí được trừ của nghiệp vụ mua hàng đó không? Câu trả lời cũng là “chưa chắc”. Tại sao lại như vậy? Để trả lời câu hỏi này chúng ta cần phải xem xét một cách cẩn thận về sự phù hợp, tính logic, chặt chẽ của từng chứng từ trong bộ chứng từ kể trên.


    Hợp đồng kinh tế

    Các nghiệp vụ mua hàng có giá trị lớn, thời gian thực hiện lâu dài thì nhất thiết phải có Hợp đồng kinh tế, để đưa ra những cam kết ràng buộc trách nhiệm giữa bên mua và bên bán. Hợp đồng cũng là một căn cứ, để khẳng định giá trị và tầm quan trọng của một giao dịch. Nếu một tờ hóa đơn có giá trị lớn mà không có Hợp đồng đi kèm, thì đây là một dấu hiệu để cơ quan thuế đặt câu hỏi về tính thực tế của giao dịch. Hợp đồng và các chứng từ khác có quan hệ mật thiết với nhau về nội dung .


    - Thứ nhất về mặt giá trị: Giá trị ghi trên Hợp đồng phải bằng với giá trị ghi trên Hóa đơn và Chứng từ thanh toán. Nếu số liệu trên ba chứng từ này (Hợp đồng, Hóa đơn, Chứng từ thanh toán) không bằng nhau thì kế toán cần phải giải thích được. Ngoài trường hợp giá trị Hợp đồng bằng giá trị ghi trên Hóa đơn, có hai khả năng xảy ra:

    + Khả năng 1: Giá trị trên Hợp đồng lớn hơn giá trị trên Hóa đơn. Trong trường hợp này, nếu không có Phụ lục điều chỉnh giá trị hiện thực thì cơ quan thuế sẽ xử lý bên bán bằng cách coi giá trị trên Hợp đồng là doanh thu. Như vậy, doanh thu của bên bán sẽ bị tăng lên so với doanh thu đã khai theo Hóa đơn. Trường hợp này, bên bán bị rủi ro, bên mua không bị rủi ro.

    + Khả năng 2: Giá trị ghi trên Hợp đồng nhỏ hơn giá trị ghi trên Hóa đơn. Trên thực tế, trường hợp này không phải là hiếm gặp. Sở dĩ, sau khi ký Hợp đồng, Bên mua có thể có phát sinh mua thêm hoặc thậm chí yêu cầu bên bán cho gửi giá, nên giá trị ghi trên Hóa đơn có thể lớn hơn rất nhiều so với giá trị thực tế ghi trên Hợp đồng. Trong trường hợp này, bên mua đã hạch toán chi phí theo giá trị ghi trên tờ Hóa đơn. Nếu DN không làm Phụ lục điều chỉnh bổ sung hoặc bỏ Hợp đồng cũ, ký lại Hợp đồng mới sao cho có sự trùng khớp về mặt giá trị so với Hóa đơn, thì cơ quan thuế sẽ xác định con số ghi trên Hợp đồng cũ là chi phí. Như vậy, trường hợp này chi phí của bên mua sẽ bị giảm đi và lợi nhuận trong kỳ của bên mua sẽ tăng lên đúng bằng số chênh lệch giữa giá trị ghi trên Hóa đơn và giá trị ghi trên Hợp đồng cũ. Trường hợp này, Bên mua sẽ bị truy thu thuế TNDN và tiền phạt chậm nộp tương ứng với phần lợi nhuận tăng thêm.

    - Thứ hai, về mặt thanh toán. Điều khoản thanh toán ghi trong Hợp đồng sẽ có quy định về thời hạn thanh toán. Cơ quan thuế sẽ so sánh thời điểm trên Chứng từ thanh toán và thời hạn thanh toán ghi trong Hợp đồng để bắt lỗi DN. Có 2 khả năng xảy ra:

    + Khả năng 1: DN thanh toán trước hoặc đúng hạn so với thời hạn thanh toán ghi trên Hợp đồng. Trường hợp này sẽ không có rủi ro.

    + Khả năng 2: Thời điểm thanh toán trên Chứng từ thanh toán phát sinh sau thời hạn thanh toán ghi trên Hợp đồng hoặc Biên bản bàn giao. Trong trường hợp này, Cơ quan thuế sẽ yêu cầu DN điều chỉnh kỳ khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Nếu DN xin hoàn thuế GTGT thì cơ quan thuế sẽ không cho hoàn thuế GTGT, đối với những trường hợp DN thanh toán không đúng thời hạn ghi trên Hợp đồng. Dù phải điều chỉnh kỳ khấu trừ thuế GTGT, hay không được hoàn thuế GTGT, đều gây ra cho DN những rắc rối không thể khắc phục được. Bởi vậy, để tránh những rủi ro đó, DN cần phải theo dõi điều khoản thanh toán ghi trên Hợp đồng. Nếu đến hạn mà DN vẫn chưa thanh toán được cho bên bán, thì phải làm Đơn xin gia hạn thanh toán và phải được bên bán đồng ý chấp nhận. Có như vậy, Cơ quan thuế mới chấp nhận cho DN hoàn thuế hoặc kê khai khấu trừ đúng kỳ nó phát sinh. Để minh hoạ cho trường hợp DN bị Cơ quan thuế bắt điều chỉnh kỳ khai thuế VAT khấu trừ, chúng ta cùng suy ngẫm ví dụ sau.

    Ví dụ: Tháng 3/2015, DN A ký Hợp đồng mua một lô hàng của DN B có giá trị là 1 tỷ đồng, thuế GTGT 10% là 100 triệu đồng và được DN B viết hoá đơn ngay trong tháng 3 đó. DN A đã kê khai thuế GTGT được khấu trừ của tờ Hóa đơn đó cho Quý 1/2015. Giả sử, Quý 1/2015 tổng số thuế GTGT đầu ra của DN A là 90 triệu đồng nhỏ hơn so với tổng số thuế GTGT được khấu trừ của một tờ Hoá đơn mua vật liệu là 100 triệu đồng (Quý này chỉ có 1 tờ Hoá đơn GTGT mua vào). Do đó, Quý 1/2015 DN A không phải nộp thuế GTGT. Tuy nhiên, trong Hợp đồng có ghi thời hạn thanh toán là sau 90 ngày, kể từ khi Hai bên ký kết, tức là hạn cuối thanh toán là ngày 30/6/2015. Đến hạn thanh toán, DN A vẫn chưa thanh toán cho DN B và cũng không làm đơn xin gia hạn. Đến tháng 10/2015, DN A mới chuyển khoản thanh toán cho DN B. Năm 2017, Cơ quan thuế vào quyết toán với DN A, họ xem lại điều khoản thanh toán ghi trên Hợp đồng và yêu cầu DN A điều chỉnh kỳ khai thuế GTGT khấu trừ của tờ hoá đơn mua vật liệu trong Quý 1 sang Quý 4/2015. Như vậy, Quý 1/2015 sẽ không được khấu trừ 100 triệu tiền thuế mà phải khai khấu trừ cho Quý 4/2015. Do đó, số thuế GTGT phải nộp của Quý 1/2015 phải là 90 triệu đồng. Doanh nghiệp A bị truy thu 90 triệu đồng thuế GTGT và số tiền chậm nộp của 90 triệu đồng đó theo lãi suất 0,05% ngày (từ ngày 01/07/2016 áp dụng mức phạt tiền thuế chậm nộp là 0,03% ngày) cho tới thời điểm Cơ quan thuế quyết toán. Còn sang Quý 4/ 2015, DN A có sự điều chỉnh như thế nào thì tác giả không đề cập nữa, vì nếu trình bày vấn đề này sẽ rất dài dòng và phức tạp. Qua đó, chúng ta thấy, việc DN bị Cơ quan thuế yêu cầu điều chỉnh kỳ khai thuế GTGT đầu vào cũng gây ra những thủ tục rắc rối và những rủi ro nhất định.


    Hoá đơn GTGT

    Một trong những điều kiện rất quan trọng, để được cơ quan thuế chấp nhận cho DN khấu trừ thuế GTGT và được hạch toán vào chi phí được trừ đó là: Hoá đơn phải là hợp pháp. Nếu người mua lấy phải Hoá đơn bất hợp pháp thì mức xử phạt sẽ rất nghiêm trọng. Trên thực tế, không phải kế toán nào cũng cẩn thận và biết cách kiểm tra tính hợp pháp của Hoá đơn GTGT. Nhiều người cho rằng, Hoá đơn GTGT có đầy đủ con dấu và chữ ký của người bán thì đó là Hoá đơn hợp pháp, điều này chưa chắc đúng. Để khẳng định bước đầu về tính hợp pháp của Hoá đơn, kế toán cần phải kiểm tra các thông tin về tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán, kiểm tra seri của tờ Hoá đơn xem họ có đăng ký phát hành không? Việc kiểm tra các thông tin này, được thực hiện bằng cách gõ tên công ty và mã số thuế trên trang Thông tin người nộp thuế của Tổng cục thuế. Sau đó mở trang Thông tin hoá đơn, rồi gõ seri của tờ Hoá đơn mà người bán định xuất, xem người bán có đăng ký phát hành với Cơ quan thuế hay chưa. Nếu các thông tin đó đều tốt, thì cũng chưa thể yên tâm khẳng định tờ Hoá đơn đó là hợp pháp. Vậy bước tiếp theo kế toán cần phải làm gì?


    Bước thứ hai, kế toán cần phải yêu cầu người bán phô tô Liên 1 và Liên 3 xem có khớp với tờ Hoá đơn (Liên 2) mà DN đem về không? Nếu cẩn thận hơn nữa thì phải trực tiếp xem người bán viết Hoá đơn và phải trực tiếp ký tươi vào vị trí người mua hàng cho cả 3 liên đó. Trên thực tế, nhiều DN lợi dụng chính sách khai thuế là tự khai, tự nộp. Do đó, hiện tượng 3 liên có giá trị khác nhau là có thể xảy ra, nhất là tình hình mua bán hoá đơn diễn ra rất phổ biến như hiện nay. Đây là một hiện tượng gian lận của người bán. Những nhà cung cấp như vậy, cho dù ngày hôm nay họ vẫn đang hoạt động và hoá đơn của họ có đăng ký phát hành, nhưng một ngày nào đó họ bỏ trốn thì không ai biết trước được. Nếu người mua mà lấy phải hoá đơn của người bán như vậy thì chắc chắn sẽ gặp phải rủi ro, cho dù hoạt động mua bán là có thật. Vậy có cách nào, để phòng ngừa khả năng người bán bỏ trốn mà DN vẫn bảo vệ được chi phí được trừ với Cơ quan thuế?

    Bước thứ ba, kế toán yêu cầu người bán in Tờ khai thuế của một vài kỳ trước xem họ có đầu vào của mặt hàng mà họ bán cho DN không? Để tránh tình trạng họ chỉ có đầu ra mà không có đầu vào, như thế cũng là dấu hiệu của việc kinh doanh bất hợp pháp. Mặt khác, người mua phải yêu cầu người bán in cho Tờ kê khai thuế của kỳ mua hàng, xem người bán có khai GTGT đầu ra bằng với GTGT đầu vào của người mua không? Nếu người bán cũng khai GTGT đầu ra bằng với GTGT đầu vào của người mua, thì kế toán lưu lại bản Tờ khai đó trong hồ sơ và hoàn toàn yên tâm về tính hợp pháp của Hoá đơn. Tuy nhiên, theo quy định mới hiện nay, khi khai thuế GTGT, DN chỉ cần khai trên sheet Tờ khai, bỏ kê khai các Phụ lục về Bảng kê hóa đơn mua vào và bán ra. Do vậy, các phụ lục này kế toán tự làm trên Excell. Khi đó, người mua có thể xin tờ phô tô Giấy đăng ký kinh doanh của người bán hoặc một tờ hóa đơn đầu vào của người bán, để có cơ sở khẳng định người bán có kinh doanh mặt hàng mà mình mua và yên tâm vì họ không phải là DN kinh doanh bất hợp pháp.

    Như vậy, nếu người mua kiểm tra một cách cẩn thận các thông tin của người bán theo các bước trên, thì cho dù một ngày nào đó trong tương lai, người bán bỏ trốn, người mua vẫn bảo vệ được tính hợp pháp của hoá đơn.

    Ngoài tính hợp pháp của Hoá đơn, kế toán cũng phải lưu ý về một số nội dung ghi trên Hoá đơn như: Tên hàng hoá, số lượng, đơn giá,...

    - Đối với DN thương mại, tên hàng hoá mua vào phải khớp với tên hàng hoá bán ra. Tức là, DN muốn được khấu trừ và hoạch toán chi phí được trừ thì phải đảm bảo nguyên tắc “Mua gì, bán ấy”. Do vậy, tên gọi hàng hoá nhập phải thống nhất với tên hàng hoá xuất kho hoặc xuất bán. Nếu có trường hợp, mua theo “bộ” nhưng bán lẻ theo “chiếc” thì DN cần phải có văn bản giải thích về quy cách và cách quy đổi từ “bộ” sang “chiếc”...

    - Đối với DN sản xuất hoặc DN xây dựng, tên của vật liệu mua vào phải đúng với loại vật liệu dùng cho sản xuất, phù hợp với công năng sử dụng vật liệu hoặc dự toán công trình. Ví dụ, DN có một chiếc ô tô theo hồ sơ kỹ thuật về TSCĐ là xe chạy dầu. Tuy nhiên, DN lại lấy hóa đơn xăng để đưa vào chi phí thì các hóa đơn xăng xe sẽ bị loại bỏ,...

    - Về số lượng, đối với DN thương mại phải đảm bảo nguyên tắc “Mua 1 - Bán 1”. Nếu không đảm bảo nguyên tắc đó, thì kế toán phải giải trình tại sao mua nhiều nhưng bán ít? Hàng tồn kho để đâu? Có thanh lý hàng hỏng hay quy trình huỷ hàng quá đát,...?

    - Đối với DN sản xuất, các yếu tố đầu vào phải phù hợp với định mức sản xuất hoặc dự toán công trình. Không được lấy hoá đơn của vật liệu này bù cho vật liệu khác,...

    - Về giá trị ghi trên hoá đơn, kế toán cần phải lưu ý rằng, những hoá đơn thông thường cần phải ghi theo giá thị trường, không được gửi giá một cách vô căn cứ. Hiện tượng này rất hay gặp trong các DN hiện nay, kết quả là, cơ quan thuế sẽ loại bỏ những hoá đơn mua hàng có giá quá cao so với thị trường.


    Chứng từ thanh toán

    Chứng từ thanh toán cũng là một điều kiện rất quan trọng, để Cơ quan thuế cho phép DN được khấu trừ thuế và hoạch toán vào chi phí. Theo quy định hiện nay, nếu giá trị giao dịch lớn hơn 20 triệu đồng thì buộc phải thanh toán qua ngân hàng, kể cả những Hóa đơn trực tiếp (trước 02/8/2014 hóa đơn trực tiếp không phải chuyển khoản). Chứng từ thanh toán đủ điều kiện, phải đảm bảo về hình thức thanh toán và nội dung thanh toán.


    - Thứ nhất, về hình thức thanh toán

    + Đối với những giao dịch có giá trị nhỏ (dưới 20 triệu đồng) mà người mua thanh toán bằng tiền mặt thì chứng từ thanh toán là Phiếu thu. Yêu cầu của phiếu thu phải có đầy đủ chữ ký, thậm chí cả con dấu của người bán. Cần phải lưu ý rằng, ngoài tờ Hóa đơn, kế toán phải yêu cầu người mua lấy cả Phiếu thu của người bán. Trường hợp, mua nhiều loại mặt hàng mà trên tờ Hóa đơn không liệt kê cụ thể, thì còn phải yêu cầu người bán cung cấp thêm Phiếu xuất kho /Bảng kê ghi rõ tên và số lượng từng mặt hàng.


    + Đối với những giao dịch có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên, thì bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng hoặc bù trừ /cấn trừ công nợ. Vậy thanh toán như thế nào, để được coi là thanh toán qua ngân hàng? Kế toán cần phải lưu ý rằng: Có những trường hợp thanh toán qua ngân hàng nhưng cũng không được Cơ quan thuế chấp nhận. Ví dụ, người mua mang tiền ra ngân hàng nộp trực tiếp vào tài khoản của người bán, hoặc người mua chuyển khoản từ tài khoản của mình sang tài khoản của người bán, nhưng tài khoản này không được đăng ký với Cơ quan thuế. Nếu thanh toán qua ngân hàng theo hai trường hợp như trên, thì chi phí của giao dịch đó sẽ không được Cơ quan thuế cho phép khấu trừ thuế và không được hạch toán vào chi phí được trừ. Nhiều DN không để ý điều này và hậu quả là khi quyết toán thuế sẽ bị Cơ quan thuế xuất toán, DN bị truy thu thuế GTGT, thuế TNDN và tiền phạt chậm nộp thuế tính theo lãi suất 0,03%/ngày. Như vậy, kế toán cần phải rất lưu ý về vấn đề thanh toán, nếu không rủi ro sẽ rất nghiêm trọng. Vậy, để phòng ngừa rủi ro cho các tình huống trên, người mua cần phải yêu cầu người bán cung cấp Mẫu 08-MST, để biết được một số thông tin của người bán, đặc biệt là số tài khoản mà người bán đã đăng ký với Cơ quan thuế.

    Tóm lại, thanh toán qua ngân hàng phải đảm bảo người mua chuyển khoản từ tài khoản của mình sang tài khoản của người bán, cả tài khoản người mua và người bán đều phải được đăng ký với Cơ quan thuế theo Mẫu 08-MST.

    - Thứ hai, về nội dung thanh toán. Khi chuyển khoản, kế toán cần phải ghi rõ thanh toán cho Hợp đồng hay Hóa đơn cụ thể nào. Tránh tình trạng DN mua nhiều lần gối đầu của người bán, các lần mua lại có thời hạn thanh toán khác nhau. Do đó, để đảm bảo thanh toán đúng hạn, không bị nhầm lẫn giữa các lần mua hàng và đảm bảo cho việc giải trình với Cơ quan thuế về việc thanh toán đúng hạn, ủy nhiệm chi phải ghi rõ nội dung thanh toán cho Hợp đồng cụ thể nào đó. Nếu có khoản thanh toán nào bị chậm so với thời hạn ghi trên Hợp đồng, thì cần phải làm Đơn xin gia hạn và phải được người bán chấp thuận. Kế toán làm được như vậy, mới tránh được rủi ro về việc Cơ quan thuế yêu cầu DN dịch chuyển kỳ kê khai khấu trừ thuế GTGT như đã đề cập ở phần trên.

    Ngoài ra, giá trị thanh toán cũng cần phải đặc biệt lưu ý. Nếu giá trị thanh toán không khớp với giá trị ghi trên Hóa đơn, thì Cơ quan thuế cũng có lý do để gây bất lợi cho DN. Đặc biệt là, trường hợp giá trị trên chứng từ thanh toán nhỏ hơn giá trị ghi trên tờ Hóa đơn, nếu điều này xảy ra thì cơ quan thuế sẽ xác định chi phí theo con số ghi trên chứng từ thanh toán. Khi đó, lợi nhuận trong kỳ của DN sẽ bị tăng lên, điều này dẫn tới việc DN bị truy thu thuế TNDN và tiền phạt chậm nộp thuế. Để tránh rủi ro trên, kế toán cần phải lập Đơn xin gia hạn thanh toán hoặc Biên bản đối chiếu công nợ (nếu ở thời điểm kết thúc niên độ)...

    Tóm lại, để Cơ quan thuế chấp nhận cho DN được kê khai khấu trừ thuế GTGT, hoàn thuế GTGT và được hạch toán vào chi phí được trừ thì một trong những điều kiện mà DN phải tuân thủ là chứng từ thanh toán phải đảm bảo theo đúng quy định. Kế toán cần phải lấy Mẫu 08-MST của người bán, để chuyển khoản cho đúng số tài khoản mà người bán đăng ký với Cơ quan thuế. Đồng thời, phải đọc và theo dõi việc thực hiện Hợp đồng để kịp thời điều chỉnh, bổ sung các chứng từ liên quan và thanh toán cho đúng hạn.

    Biên bản bàn giao hàng hóa / Biên bản nghiệm thu khối lượng công việc hoàn thành.

    Trên thực tế hiện nay, rất nhiều kế toán ghi nhận doanh thu và chi phí dựa vào thời điểm và giá trị ghi trên tờ Hóa đơn. Kế toán cần phải lưu ý rằng, trong một số trường hợp, doanh thu tính thuế GTGT có thể trùng với doanh thu tính thuế TNDN. Tuy nhiên, một số trường hợp khác, doanh thu tính thuế GTGT lại khác với doanh thu tính thuế TNDN. Bàn về vấn đề này sẽ liên quan đến cả bên mua và bên bán. Khi mà thời điểm xuất hóa đơn không trùng thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, thì sẽ nảy sinh nhiều khả năng và có những vấn đề gây tranh cãi. Dù bất luận như thế nào, khi thanh kiểm tra và quyết toán thuế, Cơ quan thuế luôn xử lý dựa trên quan điểm: “Nếu có lợi cho Ngân sách Nhà nước (NSNN) thì im lặng. ngược lại, nếu bất lợi cho NSNN thì phải xử lý DN”. Do vậy, nếu không nắm rõ điều này, thì rất có thể kế toán sẽ tự gây bất lợi cho DN hoặc là Cơ quan thuế sẽ xử lý DN. Để minh họa cho vấn đề này, chúng ta cùng nghiên cứu một số tình huống sau.

    Tình huống 1: Thời điểm xuất Hóa đơn xảy ra trước thời điểm hai bên lập Biên bản bàn giao quyền sở hữu hàng hóa. Sở dĩ như vậy, vì DN mua hàng chuyển khoản ứng trước tiền cho người bán, để yêu cầu họ xuất Hóa đơn tương ứng với số tiền ứng trước. Trường hợp này, hai bên chưa chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa. Do vậy, thời điểm ghi trên biên bản bàn giao /biên bản nghiệm thu công trình xảy ra sau, so với thời gian ghi trên Hóa đơn. Tình huống này, nghĩa vụ thuế của bên mua và bên bán là như thế nào?

    - Bên mua: Kế toán khai thuếGTGT khấu trừ và hạch toán vào chi phí được trừ, theo thời điểm ghi trên hóa đơn. Nếu thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa thuộc về niên độ sau (thuộc về năm sau) thì Cơ quan thuế sẽ xác định chi phí đó thuộc về năm sau. Như vậy, chi phí của bên mua sẽ bị nhấc từ năm trước về năm sau và do đó, lợi nhuận năm trước sẽ tăng lên đúng bằng số chi phí bị nhấc về năm sau. Kết quả là, DN sẽ bị truy thu thuế TNDN, thuế GTGT đã khấu trừ và phạt tiền chậm nộp thuế. Tình huống này có thể do khách quan từ phía người bán hoặc có thể do chủ quan từ phía người mua.

    + Về khách quan: Thời điểm mua hàng /ứng tiền cận kề với thời điểm cuối năm, hoặc vì lý do nào đó mà người bán không thể cung cấp hàng kịp thời và phải lùi sang năm sau. Việc kế toán chứng minh với Cơ quan thuế về tính khách quan là rất khó được chấp nhận. Cơ quan thuế luôn nghi ngờ về sự chủ động lấy Hóa đơn trước niên độ của Bên mua trong trường hợp này.

    + Về chủ quan: Người mua chủ động lấy hóa đơn để được khấu trừ và hạch toán chi phí trước nhằm làm giảm lợi nhuận của năm hiện tại và do đó giảm nghĩa vụ nộp thuế. Đây là một hành vi rất hay gặp tại các DN.

    Dù là khách quan hay chủ quan thì việc người mua khấu trừ thuế GTGT và hạch toán chi phí cho năm trước (theo thời điểm ghi trên hóa đơn) là vi phạm nguyên tắc phù hợp (vì chi phí này chưa tạo ra doanh thu cho năm hạch toán). Do vậy, Cơ quan thuế có quyền buộc DN dịch chuyển kỳ khai thuế GTGT khấu trừ và chi phí được trừ cho năm sau. Đây là một rủi ro.

    Vậy để phòng ngừa rủi ro này, người mua có thể thỏa thuận với người bán điều chỉnh ngày ký Biên bản bàn giao hàng hóa cho phù hợp với kỳ khai thuế, mặc dù ngày ký vẫn là ngày mà hai bên chuyển giao quyền sở hữu.

    - Bên bán: Trường hợp bên bán nhận tiền tạm ứng và xuất hóa đơn trước sẽ buộc phải khai thuế GTGT đầu ra, dù như thế nào (chủ quan hay khách quan như đã nêu trên) thì Bên bán cũng không lùi được kỳ khai báo thuế GTGT đầu ra. Đó là nguyên tắc có lợi cho NSNN. Như vậy cùng một giao dịch, Cơ quan thuế có thể bắt bên mua dịch chuyển khai thuế khấu trừ sang kỳ sau nhưng lại buộc bên bán phải khai thuế GTGT đầu ra ngay trong kỳ xuất hóa đơn. Vấn đề là bên bán khai Doanh thu chịu thuế TNDN như thế nào? Có hai khả năng xảy ra.

    + Khả năng 1: Kế toán ghi nhận doanh thu chịu thuế TNDN ngay tại kỳ (niên độ) xuất Hóa đơn. Nhiều kế toán chưa có kinh nghiệm cho rằng, khi xuất Hoá đơn thì phải ghi nhận doanh thu khai thuế GTGT và đồng thời cũng là doanh thu chịu thuế TNDN. Nếu kế toán quan niệm như vậy và hạch toán luôn vào TK 511 thì tự gây bất lợi cho DN về số thuế TNDN phải nộp sớm. Cách làm có lợi hơn phải theo khả năng 2.

    + Khả năng 2: Kế toán ghi nhận khoản tạm ứng là doanh thu chưa thực hiện (TK 3387) hoặc ghi Có TK 131. Theo cách ghi nhận này thì khoản tiền nhận tạm ứng chưa phải ghi nhận doanh thu chịu thuế TNDN ngay trong kỳ xuất Hóa đơn. Và như vậy, khi nào hai bên ký vào Biên bản bàn giao hàng hóa /Biên bản nghiệm thu công trình thì khoản doanh thu chưa thực hiện TK 3387 mới kết chuyển sang TK 511, và khi đó khoản tạm ứng mới được ghi nhận là doanh thu chịu thuế TNDN. Theo cách làm này, về mặt tài chính sẽ có lợi cho DN vì một phần thuế TNDN được lùi sang năm sau.

    Tình huống 2: Thời điểm xuất Hóa đơn xảy ra sau thời điểm hai bên lập Biên bản bàn giao quyền sở hữu hàng hóa /Biên bản nghiệm thu công trình. Trên thực tế, tình huống này rất hay gặp đối với các DN mua chịu hoặc các DN hoạt động trong lĩnh vực xây dựng. Tại sao lại như vậy? Sở dĩ là vì, hai bên đã ký vào Biên bản bàn giao hàng hóa hoặc Biên bản nghiệm thu công trình. Tuy nhiên, vì bên mua chưa thanh toán hết tiền cho bên bán hoặc vì lý do nào đó mà hai bên chưa thống nhất được con số cuối cùng nên bên bán chưa xuất hóa đơn cho bên mua. Trong tình huống này, nghĩa vụ nộp thuế sẽ như thế nào đối với các bên?

    - Bên mua: Vì là mua chịu nên mặc dù hai bên đã ký vào Biên bản bàn giao hàng hóa nhưng bên bán vẫn chưa xuất hóa đơn. Điều này có thể gây ra hiện tượng bán trước, mua sau và do đó sẽ vi phạm một nguyên tắc rất cơ bản đó là “Bán trước, Mua sau”. Những hóa đơn chi phí như vậy, sẽ bị Cơ quan thuế xuất toán. Để tránh những rủi ro như vậy, kế toán cần phải lưu ý: Khi mua hàng cần phải lấy Hóa đơn cho đúng thời điểm. Trường hợp mua chịu mà người bán không xuất hóa đơn thì người mua phải ứng trước tiền thuế GTGT cho người bán, để họ viết hóa đơn cho đúng kỳ phát sinh. Đối với những DN sản xuất hoặc hoạt động trong lĩnh vực xây dựng thì cần phải lấy hóa đơn đầu vào phù hợp với thời gian sản xuất hoặc thời gian thi công công trình. Đối với các DN thương mại thì phải đảm bảo thời điểm mua xảy ra trước thời điểm bán.

    - Bên bán: Về nguyên tắc, khi bên bán bàn giao quyền sở hữu cho bên mua thì dù thanh toán hay chưa thanh toán, dù xuất hóa đơn hay chưa xuất hóa đơn, Cơ quan thuế vẫn xác định thời điểm hai bên ký Biên bản chuyển giao quyền sở hữu là thời điểm ghi nhận doanh thu chịu thuế GTGT, thuế TNDN. Do vậy, nếu kế toán ghi nhận doanh thu dựa vào thời điểm xuất Hóa đơn thuộc về năm sau thì sẽ bị Cơ quan thuế nhấc doanh thu từ năm sau về năm trước. Kết quả là, lợi nhuận năm trước sẽ tăng lên và DN sẽ bị truy thu thuế TNDN, thuế GTGT. Để phòng ngừa rủi ro này, tại thời điểm hai bên ký vào Biên bản bàn giao hàng hóa hoặc Biên bản nghiệm thu công trình thì kế toán phải viết Hóa đơn, ghi nhận doanh thu và kê khai thuế. Nếu người mua chưa lấy Hóa đơn thì kế toán không xé khỏi cuống. Sang kỳ sau, khi người mua đã thanh toán hết tiền nợ hoặc hai bên chốt lại con số cuối cùng, thì kế toán xuất tờ hóa đơn khác và kê khai điều chỉnh giảm số thuế đã kê khai của tờ Hóa đơn chưa xé khỏi cuống.

    Ngoài ra, kế toán cũng cần phải lưu ý về giá trị ghi trên Biên bản bàn giao hàng hóa hoặc Biên bản nghiệm thu khối lượng công trình. Nếu giá trị, khối lượng ghi trên Biên bản bàn giao hàng hóa, Biên bản nghiệm thu khối lượng công trình lớn hơn giá trị, khối lượng ghi trên Hợp đồng kinh tế, Hóa đơn GTGT, Chứng từ thanh toán thì Cơ quan thuế sẽ xác định doanh thu là giá trị ghi trên Biên bản bàn giao hàng hóa hoặc Biên bản nghiệm thu khối lượng công trình.

    Tóm lại, trong các chứng từ kể trên, nếu có sự chênh lệch về mặt giá trị mà kế toán không có căn cứ giải thích được, thì Cơ quan thuế sẽ chọn con số lớn nhất để áp đặt doanh thu cho Bên bán và con số nhỏ nhất để áp đặt chi phí cho Bên mua.

    Trên đây, là một vài chia sẻ về những rủi ro về thuế có thể gặp phải khi DN mua hàng. Đối với các hoạt động mua hàng có giá trị nhỏ, việc thanh toán và giao nhận diễn ra nhanh chóng thì sẽ không có Hợp đồng. Tuy nhiên, với những trường hợp đó, kế toán cần phải lưu ý cho những bộ phận, cá nhân mua hàng cần phải lấy nhiều nhất (có thể) các chứng từ của người bán. Trong bài viết này, vì phải cố gắng tránh hiện tượng lan man nên tác giả không thể nêu hết được các ví dụ cụ thể để minh họa cho từng trường hợp. Tác giả rất mong được bạn đọc, đặc biệt là các bạn sinh viên kế toán, những người mới bước vào nghề, nghiên cứu, suy ngẫm để vận dụng cho công việc được suôn sẻ./.


    Tài liệu tham khảo

    1. Thông tư số 204/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 21/12/2015, quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế.
    2. Thông tư 26/2015/TT-BTC, hướng dẫn Thuế GTGT và quản lý thuế tại Nghị định 12/2015/NĐ-CP, sửa đổi Thông tư 39/2014/TT-BTC về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
    3. Thông tư 215/2013/TT-BTC, hướng dẫn về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.
    4. Nghị định 129/2013/NĐ-CP, xử phạt vi phạm hành chính về Thuế.
    5. Nghị định 109/2013/ND-CP, quy định xử phạt quản lý hóa đơn.


    Theo Tạp chí Kế toán & Kiểm toán của Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam
    Bài của Ths.Nguyễn Quốc Hưng, Khoa Kế toán - Trường Đại học Lao động - Xã hội
    1. phantuannam thích bài này.
    2. Viết trả lời
  15. hoacotu0792
    hoacotu0792 16 Tháng mười một 2017 lúc 11:03 tại Thành viên giúp nhau

    Tìm người cùng luyện nói tiếng anh qua skype

    Mình muốn lập team gồm 4-5 bạn cùng luyện nói tiếng anh qua skype. Mình đang đi làm và trình độ của mình cũng tạm tạm thôi, có thể nghe nói được những câu đơn giản nên mình đang muốn cải thiện trình độ tiếng anh hơn nữa. Ai có cùng chí hướng thì reply nhé
    1. thaonguyenxanh2811
      thaonguyenxanh2811
      Dạ cho em hỏi chị làm lĩnh vực về kế toán và cũng đang học tiếng anh ạ? Em mới ra trường chuyên ngành kế toán ạ. Nếu có thể chị có thể add em với... Xem Thêm
    2. Viết trả lời