Nội dung chuẩn mực kế toán số 14

Kaikevn

Kaikevn

Trung cấp
18/8/21
54
4
8
Chuẩn mực kế toán số 14 là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác. Bao gồm các loại doanh thu và thời điểm ghi nhận, phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác. Từ đó có cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.

Phạm vi áp dụng chuẩn mực kế toán số 14​

Áp dụng trong kế toán các khoản doanh thu và thu nhập khác từ các giao dịch và nghiệp vụ:
  • Bán hàng: Bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán hàng hóa mua vào;
  • Cung cấp dịch vụ: Thực hiện công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng trong một hoặc nhiều kỳ kế toán;
  • Tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia.
  • Các khoản thu nhập khác ngoài các giao dịch và nghiệp vụ tạo ra doanh thu kể trên
  • Chuẩn mực này không áp dụng cho kế toán các khoản doanh thu và thu nhập khác được quy định ở các chuẩn mực kế toán khác.

Nội dung chuẩn mực kế toán số 14​

1. Xác định doanh thu​

  • Doanh thu (DT) được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được.
  • DT phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó là giá trị sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.
  • Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay. Thì DT được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận DT theo tỷ lệ lãi suất hiện hành.
    Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận DT có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai.
  • Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị. Thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra DT.

2. Nhận biết giao dịch​

  • Tiêu chuẩn nhận biết giao dịch trong chuẩn mực này được áp dụng riêng biệt cho từng giao dịch.
  • Trong một số trường hợp, các tiêu chuẩn nhận biết giao dịch cần áp dụng tách biệt cho từng bộ phận của một giao dịch đơn lẻ để phản ánh bản chất của giao dịch đó.

3. Doanh thu bán hàng​

DT bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả điều kiện sau:
  • Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;
  • Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
  • DT được xác định tương đối chắc chắn;
  • Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;
  • Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
Doanh nghiệp phải xác định thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa cho người mua trong từng trường hợp cụ thể.
Hầu hết các trường hợp, thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro trùng với thời điểm chuyển giao lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền kiểm soát hàng hóa cho người mua.
Nếu doanh nghiệp chỉ còn phải chịu một phần nhỏ rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa thì việc bán hàng được xác định và doanh thu được ghi nhận.

4. Doanh thu cung cấp dịch vụ​

Ghi nhận kết quả giao dịch

DT của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy.
Nếu giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì. DT sẽ được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán của kỳ đó. Kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn tất cả) điều kiện sau:

  • DT được xác định tương đối chắc chắn;
  • Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó;
  • Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán;
  • Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó.
Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ thực hiện trong nhiều kỳ kế toán. DT của dịch vụ trong từng kỳ thường được thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành.
DT cung cấp dịch vụ chỉ được ghi nhận khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch. Khi không thể thu hồi được khoản DT đã ghi nhận thì phải hạch toán vào chi phí. Không được ghi giảm DT.
Khi không chắc chắn thu hồi được một khoản mà trước đó đã ghi vào DT (Nợ phải thu khó đòi). Thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi. Không được ghi giảm DT.
Khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được. Thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi.

Ước tính doanh thu cung cấp dịch vụ

Doanh nghiệp có thể ước tính DT cung cấp dịch vụ khi thỏa thuận được với đối tác giao dịch:
  • Trách nhiệm và quyền của mỗi bên trong việc cung cấp hoặc nhận dịch vụ;
  • Giá thanh toán;
  • Thời hạn và phương thức thanh toán.
Để ước tính DT cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp phải có hệ thống kế hoạch tài chính và kế toán phù hợp. Doanh nghiệp có quyền xem xét và sửa đổi cách ước tính doanh thu trong quá trình cung cấp dịch vụ.

Phần công việc hoàn thành

Phần công việc đã hoàn thành được xác định theo một trong ba phương pháp sau, tuỳ thuộc vào bản chất của dịch vụ:
  • Đánh giá phần công việc đã hoàn thành;
  • So sánh tỷ lệ (%) giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với tổng khối lượng công việc phải hoàn thành;
  • Tỷ lệ (%) chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ.
Phần công việc đã hoàn thành không phụ thuộc vào các khoản thanh toán định kỳ hay các khoản ứng trước của khách hàng.

Dịch vụ được thực hiện bằng nhiều hoạt động khác nhau

Dịch vụ được thực hiện bằng nhiều hoạt động khác nhau mà không tách biệt được. Đồng thời được thực hiện trong nhiều kỳ kế toán nhất định.

=> DT từng kỳ được ghi nhận theo phương pháp bình quân.
Khi có một hoạt động cơ bản so với các hoạt động khác thì việc ghi nhận DT được thực hiện theo hoạt động cơ bản đó.

Kết quả của một giao dịch về cung cấp dịch vụ không thể xác định được chắc chắn

=> DT được ghi nhận tương ứng với chi phí đã ghi nhận và có thể thu hồi.
Trong giai đoạn đầu của một giao dịch về cung cấp dịch vụ, khi chưa xác định được kết quả một cách chắc chắn
=> DT được ghi nhận bằng chi phí đã ghi nhận và có thể thu hồi được.

Nếu chi phí liên quan đến dịch vụ đó chắc chắn không thu hồi được thì không ghi nhận DT. Chi phí đã phát sinh được hạch toán vào chi phí để xác định KQKD trong kỳ. Khi có bằng chứng tin cậy về các chi phí đã phát sinh sẽ thu hồi được thì DT được ghi nhận theo quy định.


Đầy đủ nội dung có tại: Kaike.vn
 
Học kế toán online cùng Webketoan

Xem nhiều