Một chút góp ý:
+ Hỏi xin công văn nên ghi ngày tháng năm phát hành để tiện việc tra cứu cho bạn, lý do số có thể trùng nhau.
+ Viết bài nên hạn chế sử dụng màu "đỏ", màu "đỏ" thiết nghĩ nên để dành cho Ban Quản Trị dùng thì tốt hơn. Khi nói ra điều này, có thể bạn cảm nhận cho là tôi khó tính. Thật sự khi nhìn các bài viết của thành viên dùng chữ màu "đỏ" mình tưởng nhớ lại ngày xưa Thầy Cô dùng mực màu đỏ để chỉnh sửa bài làm của học trò. Dù rằng trong nội quy của diễn đàn hiện không cấm sử dụng màu "đỏ" khi viết bài nhưng mong các thành viên thông cảm tránh lạm dụng màu chữ đỏ.
Trở lại câu hỏi của bạn:
Công văn 3621/BHXH-THU ngày 07/12/2009 của Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh về việc hướng dẫn tỉ lệ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tê, bảo hiểm tự nguyện, mức tiền lương tối thiểu vùng
2/ Mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, BHYT, BHTN:
- Người lao động thuộc đối tượng thực hiện theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN là tiền lương theo ngạch bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có). Tiền lương này được tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung.
- Người lao động đóng BHXH, BHYT, BHTN theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quy định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN là mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động gồm mức lương chính hoặc tiền công và phụ cấp được ghi tại khoản 1 Điều 3 trong bản hợp đồng lao động.
- Trường hợp mức tiền lương, tiền công đóng BHXH, BHYT, BHTN theo quy định cao hơn hai mươi tháng lương tối thiểu chung thì mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung.
Vẫn còn hiệu lực theo dòng chữ tô màu nâu tương thích với dòng chữ màu đỏ của bạn.
Các điểm sau đây của công văn trên không còn hiệu lực - Căn cứ Nghị định số 97/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009 của Chính phủ, quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động và các thông tư hướng dẫn thực hiện số 35/2009/TT-BLĐTBXH, số 36/2009/TT-BLĐTBXH ngày 13/11/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội;
- Căn cứ Nghị định số 98/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009 của Chính phủ, quy định mức lương tối thiểu đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam.
3/ Mức lương tối thiểu vùng áp dụng từ ngày 01/01/2010:
- Mức lương tối thiểu vùng dùng để trả công đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường ở các doanh nghiệp quy định tại Điều 1 nghị định số 97/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009 của Chính phủ:
+ Mức 980.000 đồng /tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các quận thuộc thành phố Hồ Chí Minh.
+ Mức 880.000 đồng /tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các huyện thuộc thành phố Hồ Chí Minh.
- Mức lương tối thiểu vùng dùng để trả công đối với người lao động Việt Nam làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam:
+ Mức 1.340.000 đồng /tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các quận thuộc thành phố Hồ Chí Minh.
+ Mức 1.190.000 đồng /tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các huyện thuộc thành phố Hồ Chí Minh.
- Người lao động ký hợp đồng lao động tại văn phòng hoặc trụ sở chính đóng tại thành phố Hồ Chí Minh nhưng làm việc ở các vùng khác thì áp dụng mức lương tối thiểu vùng tại địa điểm làm việc ghi trong hợp đồng lao động.
- Mức lương tối thiểu vùng là căn cứ để tính các mức lương, phụ cấp lương ghi trong hợp đồng lao động, doanh nghiệp không được dùng mức lương này làm cơ sở đóng BHXH, BHYT, BHTN đối với người lao động đã qua học nghề (kể cả do doanh nghiệp tự dạy nghề). Mức tiền lương thấp nhất trả cho người lao động đã qua học nghề phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng.
Các điểm trên được thay thế bởi:
Nghị đính 107/2010/NĐ-CP ngày 29/10/2010 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam
Nghị định 108/2010/NĐ-CP ngày 29/10/2010 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.
Vấn đề bạn nêu, mình thấy có những điểm đã thay đổi và BHXH TP.HCM
đã có CV 4219 ngày 24/12/2010 hướng dẫn mức lương tối thiểu vùng đóng BHXH- BHYT- BHTN áp dụng cho năm 2011, thay thế, hủy bỏ cho các điểm mà mình chú thích không còn hiệu lực.
Tuy nhiên các điểm (đoạn) tô màu nâu (hoặc tô màu đỏ theo bài viết của bạn) sao BHXH TP.HCM không khẳng định và nhắc lại??? Đúng là cục bộ. Văn bản mang tính địa phương. Ương ương dở dở dễ dẫn đến hành vi "bắt chẹt, chịt cổ" doanh nghiệp, vì ai muốn hiểu sao thì hiểu. Ôi luật
rừng "địa phương"