Để hiểu rõ quỹ khấu hao, chúng ta phải lật lại vấn đề một chút! Khi doanh nghiệp bỏ tiền ra mua tài sản cố định => doanh nghiệp đã tốn một khoản chi phí => nhưng vì tài sản cố định là tài sản dài hạn và phải trích khấu hao nên bạn không thể thu lại chi phí đó ngay lập tức (như các chi phí ngắn hạn khác) mà bạn chỉ có thể thu hồi lại dần dần (thông qua việc trích khấu hao tài sản cố định) => điều này cũng khá phù hợp với đặc điểm của tài sản cố định (hay còn gọi là vốn cố định) tức là giá trị của tài sản cố định dịch chuyển dần dần vào giá trị sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp (khác với nguyên vật liệu là giá trị nguyên vật liệu dịch chuyển toàn bộ 1 lần vào giá trị thành phẩm, dịch vụ)
Như vậy, có thể hiểu là chi phí khấu hao là một khoản chi không phải bằng tiền (vì đối ứng của nó là Nợ 627, 641, 642/Có 214) => theo ý mình hiểu, nó chỉ là tài khoản trung gian để theo dõi quá trình thu hồi vốn cố định (thu hồi số tiền đã bỏ ra để đầu tư tài sản cố định) và tái đầu tư tài sản cố định.
Giả sử ta đầu tư kinh doanh bỏ ra 100 tr ban đầu để mua máy móc, khấu hao mỗi năm 20 tr. Tuy chi phí để tính thuế sau này có phần khấu hao (chi phí khấu hao không phải là khoản tiền chi thực), nhưng rõ ràng trong doanh thu thuần ta sẽ trừ đi khấu hao và các khoản khác để được EBIT.
Vậy nghĩa là từ doanh thu thuần ta phải trích một khoản tiền (hoặc tương đương tiền) để làm quỹ khấu hao. Mục đích là khi máy móc mua ngày trước bị hỏng, ta chỉ việc dùng quỹ khấu hao này mua lại cái mới.
nguồn vốn khấu hao cơ bản thực chất thuộc nguồn vốn kinh doanh. Như vậy khi mua TSCĐ bằng nguồn vốn khấu hao cơ bản thì NVKD sẽ ko thay đổi, do đó ko định khoản vào TK 411.
Theo mình thì định khoản thế này :
Nợ TK 211:279600
Nợ TK 133: 27960
Có TK 112: 307560
Nợ TK 211:3600
Có TK 111: 3600
Nợ TK 414: 279600
Có TK 411: 279600