Tài khoản lưỡng tính là tài khoản vừa mang kết cấu của tài khoản phản ánh tài sản vừa mang kết cấu của tài khoản phản ánh nguồn vốn.
Trên thực tế chúng ta thường gặp 02 Tài khoản lưỡng tính sau:
Tài khoản 131 và Tài khoản 331.
+ Tài khoản 131:
- TK 131 dư nợ - "Phải thu khách hàng" - Là Tk phản ánh tài sản mang kết cấu của tài khoản phản ánh tài sản.(Tức: Số dư đầu kỳ, số ps tăng trong kỳ, số dư cuối kỳ phản ánh bên Nợ, số PS giảm phản ánh bên Có). Số dư cuối kỳ của tài khoản này làm căn cứ để lập chỉ tiêu "Phải thu khách hàng" mục III.1 - bên phần Tài sản trên Bảng cân đối kế toán.
Ví dụ: bán lô hàng trị giá 100 triệu, thuế GTGT 10 % cho Công ty A, A đã nhận được hàng và nhận nợ sang kỳ sau thanh toán.
Định khoản: Nợ 131 - 110/Có 511 - 100/ Có 3331 - 10.
- TK 131 dư có - "Khách hàng ứng tiền trước" Có kết cấu ngược lại với kết của của Tk 131 - Dư nợ. Lý do là vì: Tk này dùng để phản ánh đối tượng kế toán là "tiền ứng trước của khách hàng". Khi nhận tiền ứng trước của khách hàng, DN phải có trách nhiệm thanh toán cho khách hàng bằng hàng hóa - có nghĩa khoản tiền ứng trước mà DN đã nhận mang tính chất của một khoản nợ. Do đó tk 131 - dư có mang kết cấu của tk phản ánh Nợ phải trả (Tài khoản nguồn vốn)Số dư cuối kỳ của tk này làm căn cứ lập chỉ tiêu "Người mua trả tiền trước" mục I.3 - Phần Nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán.
Ví dụ: Ngày 1/3/2011, DN nhận ứng trước của công ty A là 100 triệu bằng tiền gửi ngân hàng (Đã có báo có của ngân hàng)
Định khoản: Nợ 112 100/ Có 131DC - 100.
Số dư của hai tài khoản 131Dn và 131Dc không được bù trừ cho nhau.
+ Tương tự, TK 331 cũng vậy, bạn có thể tham khảo chi tiết hơn tại các giáo trình Nguyên lý kế toán.
Thân ái!