Chào mọi người, hiện nay mình thấy đang có nhiều quan điểm khác nhau về cách hạch toán các khoản chi phí trả trước trên hai tài khoản kế toán là TK 142 - chi phí trả trước ngắn hạn và TK 242 - chi phí trả trước dài hạn. Về cơ bản đa số những người làm kế toán, kiểm toán đều hiểu rằng phân bổ từ 12 tháng trở xuống thì hạch toán vào TK 142, và trên 12 tháng thì hạch toán TK 242, nhưng để giải thích thuyết phục cho nhiều bạn khác hiểu về “năm tài chính” thì vẫn còn nhiều tranh cãi, vì có 2 cách hiểu khác nhau về “năm tài chính”, đó là:
1. Năm tài chính được hiểu là 12 tháng, do đó trong vòng 12 tháng thì hạch toán 142, trên 12 tháng thì hạch toán 242. Ví dụ phát sinh 1 khoản chi phí phân bổ 12 tháng từ tháng 10/N, vậy hạch toán vào TK 142 và phân bổ đến tháng 9/N+1.
2. Năm tài chính được hiểu là năm liên quan đến hoạt động kinh doanh, do đó cứ liên quan đến 2 năm thì hạch toán 242, còn chỉ liên quan đến năm hiện tại thì hạch toán 142. Và với ví dụ trên thì hạch toán vào TK 242 do phân bổ liên quan đến 2 năm là N và N+1.
Mình xin được phép trình bày ý kiến cá nhân trong trường hợp này như sau, tất cả dựa trên quy định trong QĐ15/QĐ-BTC năm 2006 hướng dẫn hạch toán kế toán:
- Trong phần định nghĩa về tài sản ngắn hạn: “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hoá), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu.”
- Trong định nghĩa về TK 128 - đầu tư ngắn hạn: “Tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình biến động tăng, giảm của các khoản đầu tư ngắn hạn khác bao gồm cả các khoản cho vay mà thời hạn thu hồi không quá một năm.…”
- Trong định nghĩa về TK 142: “Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản chi phí thực tế đã phát sinh, nhưng chưa được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh của kỳ phát sinh và việc kết chuyển các khoản chi phí này vào chi phí sản xuất, kinh doanh của các kỳ kế toán sau trong một năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh.”
- Trong định nghĩa về TK 311 - vay ngắn hạn: “Vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn trả trong vòng một chu kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường hoặc trong vòng một năm tài chính. ”
Và:
- Trong định nghĩa về TK 228 - đầu tư dài hạn: “Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động tăng, giảm các loại đầu tư dài hạn khác (ngoài các khoản đầu tư vào công ty con, vốn góp vào cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát, đầu tư vào công ty liên kết), như: Đầu tư trái phiếu, đầu tư cổ phiếu, hoặc đầu tư vào đơn vị khác mà chỉ nắm giữ dưới 20% vốn chủ sở hữu (dưới 20% quyền biểu quyết),... và thời hạn thu hồi hoặc thanh toán vốn trên 1 năm.”
- Trong định nghĩa về TK 242: “Tài khoản này dùng để phản ánh các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có liên quan đến kết quả hoạt động SXKD của nhiều niên độ kế toán và việc kết chuyển các khoản chi phí này vào chi phí SXKD của các niên độ kế toán sau.”
- Trong định nghĩa về TK 341 - vay dài hạn: “ Vay dài hạn là khoản vay có thời hạn trả trên một năm.”
=> Như vậy: Đối với các khoản đầu tư tài chính, các khoản vay nợ chúng ta có thể dễ dàng phân loại dựa trên thời gian là 12 tháng. Mặc dù vay từ tháng 10/N và trả vào tháng 8/N+1 thì vẫn là khoản vay ngắn hạn dù liên quan đến 2 năm, hoặc 1 khoản đầu tư tiền gửi từ tháng 12/N sang tháng 3/N+1 vẫn là 1 khoản đầu tư ngắn hạn dù liên quan đến 2 năm khác nhau.
Hơn nữa TK 142 được phân loại vào nhóm tài sản ngắn hạn, đương nhiên phải hiểu ngắn hạn ở đây là 12 tháng trở xuống rồi. Và tương tự TK 242 - tài khoản nằm trong nhóm TS dài hạn phải là các khoản trả trước trên 12 tháng.
Nếu các bạn quan tâm đến “năm tài chính”, có thể thấy trong định nghĩa TK 311 của QĐ 15 vẫn định nghĩa là : “Vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn trả trong vòng một chu kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường hoặc trong vòng một năm tài chính. ”, giống cách định nghĩa TK 142, 242 nhưng ko ai hiểu theo cách vay tháng 12/N và trả tháng 3/N+1 là hai năm tài chính cả.
Như vậy theo mình đây là do trong QĐ 15 không sử dụng từ ngữ một cách thống nhất, rõ ràng mà thôi, lúc dùng “năm”, lúc dùng “năm tài chính”, lúc dùng “niên độ” nhưng rõ ràng vẫn phán ánh 1 quan điểm.
Vậy nên TK 142 dùng để phản ảnh các khoản chi phí trả trước có thời gian phân bổ từ 12 tháng trở xuống, và TK 242 phân bổ các khoản chi phí trên 12 tháng.
(P/s: tham khảo thêm về định nghĩa năm tài chính:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Năm_tài_chính
Theo đó:
Năm tài chính là khoảng thời gian có độ dài tương đương một năm (tức là 12 tháng hoặc 52 đến 53 tuần) dùng cho công tác kế hoạch ngân sách của tổ chức hoặc quốc gia. Năm tài chính còn được gọi là Tài khóa. Ở Việt Nam, năm tài chính được gọi là Năm ngân sách. Ở Mỹ, năm tài chính còn được gọi là Năm thuế. FY là các chữ viết tắt của cụm từ Fiscal Year hoặc Financial Year trong tiếng Anh, nghĩa là năm tài chính.)
1. Năm tài chính được hiểu là 12 tháng, do đó trong vòng 12 tháng thì hạch toán 142, trên 12 tháng thì hạch toán 242. Ví dụ phát sinh 1 khoản chi phí phân bổ 12 tháng từ tháng 10/N, vậy hạch toán vào TK 142 và phân bổ đến tháng 9/N+1.
2. Năm tài chính được hiểu là năm liên quan đến hoạt động kinh doanh, do đó cứ liên quan đến 2 năm thì hạch toán 242, còn chỉ liên quan đến năm hiện tại thì hạch toán 142. Và với ví dụ trên thì hạch toán vào TK 242 do phân bổ liên quan đến 2 năm là N và N+1.
Mình xin được phép trình bày ý kiến cá nhân trong trường hợp này như sau, tất cả dựa trên quy định trong QĐ15/QĐ-BTC năm 2006 hướng dẫn hạch toán kế toán:
- Trong phần định nghĩa về tài sản ngắn hạn: “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hoá), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu.”
- Trong định nghĩa về TK 128 - đầu tư ngắn hạn: “Tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình biến động tăng, giảm của các khoản đầu tư ngắn hạn khác bao gồm cả các khoản cho vay mà thời hạn thu hồi không quá một năm.…”
- Trong định nghĩa về TK 142: “Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản chi phí thực tế đã phát sinh, nhưng chưa được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh của kỳ phát sinh và việc kết chuyển các khoản chi phí này vào chi phí sản xuất, kinh doanh của các kỳ kế toán sau trong một năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh.”
- Trong định nghĩa về TK 311 - vay ngắn hạn: “Vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn trả trong vòng một chu kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường hoặc trong vòng một năm tài chính. ”
Và:
- Trong định nghĩa về TK 228 - đầu tư dài hạn: “Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động tăng, giảm các loại đầu tư dài hạn khác (ngoài các khoản đầu tư vào công ty con, vốn góp vào cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát, đầu tư vào công ty liên kết), như: Đầu tư trái phiếu, đầu tư cổ phiếu, hoặc đầu tư vào đơn vị khác mà chỉ nắm giữ dưới 20% vốn chủ sở hữu (dưới 20% quyền biểu quyết),... và thời hạn thu hồi hoặc thanh toán vốn trên 1 năm.”
- Trong định nghĩa về TK 242: “Tài khoản này dùng để phản ánh các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có liên quan đến kết quả hoạt động SXKD của nhiều niên độ kế toán và việc kết chuyển các khoản chi phí này vào chi phí SXKD của các niên độ kế toán sau.”
- Trong định nghĩa về TK 341 - vay dài hạn: “ Vay dài hạn là khoản vay có thời hạn trả trên một năm.”
=> Như vậy: Đối với các khoản đầu tư tài chính, các khoản vay nợ chúng ta có thể dễ dàng phân loại dựa trên thời gian là 12 tháng. Mặc dù vay từ tháng 10/N và trả vào tháng 8/N+1 thì vẫn là khoản vay ngắn hạn dù liên quan đến 2 năm, hoặc 1 khoản đầu tư tiền gửi từ tháng 12/N sang tháng 3/N+1 vẫn là 1 khoản đầu tư ngắn hạn dù liên quan đến 2 năm khác nhau.
Hơn nữa TK 142 được phân loại vào nhóm tài sản ngắn hạn, đương nhiên phải hiểu ngắn hạn ở đây là 12 tháng trở xuống rồi. Và tương tự TK 242 - tài khoản nằm trong nhóm TS dài hạn phải là các khoản trả trước trên 12 tháng.
Nếu các bạn quan tâm đến “năm tài chính”, có thể thấy trong định nghĩa TK 311 của QĐ 15 vẫn định nghĩa là : “Vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn trả trong vòng một chu kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường hoặc trong vòng một năm tài chính. ”, giống cách định nghĩa TK 142, 242 nhưng ko ai hiểu theo cách vay tháng 12/N và trả tháng 3/N+1 là hai năm tài chính cả.
Như vậy theo mình đây là do trong QĐ 15 không sử dụng từ ngữ một cách thống nhất, rõ ràng mà thôi, lúc dùng “năm”, lúc dùng “năm tài chính”, lúc dùng “niên độ” nhưng rõ ràng vẫn phán ánh 1 quan điểm.
Vậy nên TK 142 dùng để phản ảnh các khoản chi phí trả trước có thời gian phân bổ từ 12 tháng trở xuống, và TK 242 phân bổ các khoản chi phí trên 12 tháng.
(P/s: tham khảo thêm về định nghĩa năm tài chính:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Năm_tài_chính
Theo đó:
Năm tài chính là khoảng thời gian có độ dài tương đương một năm (tức là 12 tháng hoặc 52 đến 53 tuần) dùng cho công tác kế hoạch ngân sách của tổ chức hoặc quốc gia. Năm tài chính còn được gọi là Tài khóa. Ở Việt Nam, năm tài chính được gọi là Năm ngân sách. Ở Mỹ, năm tài chính còn được gọi là Năm thuế. FY là các chữ viết tắt của cụm từ Fiscal Year hoặc Financial Year trong tiếng Anh, nghĩa là năm tài chính.)

