Hi, mình gặp rác rối này, theo các anh em, cô bác thì xử lý như thế nào cho phải:
1/ cty A góp vốn thành lập cty TNHH B 1 triệu đô năm 92 tỷ giá 10.000 đ/đô, vốn góp = vốn điều lệ = 2 triệu đô, năm 2013, vốn cty B vẫn 2 triệu, tuy nhiên lỗ luỹ kế 1 triệu đô, tỷ giá năm 2013 là 21.000đ/đô. Cty A lập báo cáo bằng VND phản ánh khoản đầu tư là 10 tỷ, Cty B lập báo cáo bằng USD phản ánh khoản góp vốn là 1 triệu đô, Cty B vẫn kinh doanh ổn định, đầu ra đc cty mẹ bên nước ngoài bao tiêu. Vậy năm 2013 cty A có phải lập dự phòng không? nếu trích số dự phòng là bao nhiêu, cơ sở nào?
2/ cty A góp vốn thành lập công ty C 1 tỷ năm 2003 (cty C vốn 10 tỷ), từ năm 2003-2013 công ty C chưa năm nào lãi, lỗ luỹ kế 2 tỷ đồng, hàng năm cty C đều lập dự toán lỗ cho năm đó, ngoài ra cả bên A và C đều không có lập dự toán, kế hoạch đầu tư đến bao giờ lãi. Vậy năm 2013 cty A có phải lập dự phòng không? nếu có, khoản dự phòng này có được tính là chi phí được trừ khi tính thuế TNDN không, cơ sở nào?
tks mọi ý kiến đóng góp.
1/ cty A góp vốn thành lập cty TNHH B 1 triệu đô năm 92 tỷ giá 10.000 đ/đô, vốn góp = vốn điều lệ = 2 triệu đô, năm 2013, vốn cty B vẫn 2 triệu, tuy nhiên lỗ luỹ kế 1 triệu đô, tỷ giá năm 2013 là 21.000đ/đô. Cty A lập báo cáo bằng VND phản ánh khoản đầu tư là 10 tỷ, Cty B lập báo cáo bằng USD phản ánh khoản góp vốn là 1 triệu đô, Cty B vẫn kinh doanh ổn định, đầu ra đc cty mẹ bên nước ngoài bao tiêu. Vậy năm 2013 cty A có phải lập dự phòng không? nếu trích số dự phòng là bao nhiêu, cơ sở nào?
2/ cty A góp vốn thành lập công ty C 1 tỷ năm 2003 (cty C vốn 10 tỷ), từ năm 2003-2013 công ty C chưa năm nào lãi, lỗ luỹ kế 2 tỷ đồng, hàng năm cty C đều lập dự toán lỗ cho năm đó, ngoài ra cả bên A và C đều không có lập dự toán, kế hoạch đầu tư đến bao giờ lãi. Vậy năm 2013 cty A có phải lập dự phòng không? nếu có, khoản dự phòng này có được tính là chi phí được trừ khi tính thuế TNDN không, cơ sở nào?
tks mọi ý kiến đóng góp.

