Phương Nhi nói:
Cám ơn anh!
Em chỉ mới tốt nghiệp thôi, nên chưa hình dung được công việc rõ lắm. Căn cứ vào đâu để lập giá thành kế hoạch và giá thành định mức hở anh?
Theo như câu trả lời của anh thì em hiểu đối với mỗi doanh nghiệp sản xuất đều phải đề ra giá thành kế hoạch hoặc giá thành định mức cùng với việc theo dõi giá thành thực tế. Em hiểu như vậy đúng không anh? Nếu đúng thì câu hỏi của em là tại sao phải lập ra giá thành kế hoạch hoặc giá thành định mức.
Khi mình đã xác định được giá thành thực tế, thì điều chỉnh chênh lệch giữa giá thành thực tế và giá thành kế hoạch trên sổ sách là như thế nào vậy anh? Sổ sách nào thể hiện giá thành kế hoạch?
Em biết mình hỏi nhiều. Anh làm ơn trả lời giúp em. Mong sớm nhận được câu trả lời của anh. Chào anh!
Giá thành kế hoạch và giá thành định mức có 1 điểm chung là chưa phải là giá thành thực tế, có nghĩa là chi phí chưa phát sinh đã lập. Cơ sở để lập là định mức tiêu hao nguyên liệu, nhân công và chi phí sản xuất chung ( chi phí sản xuất chung có thể ước tính theo tỷ lệ % trên chi phí nguyên liệu)
Một số ngành nghề có định mức ban hành bởi cơ quan nhà nước, một số ngành nghề chưa có thì doanh nghiệp cũng tự ước tính định mức cho sản phẩm mình định sản xuất. Một yếu tố rất quan trọng để làm cơ sở để tính giá thành định mức và giá thành kế hoạch là đơn giá nguyên liệu tại thời điểm lập giá thành.
Ví dụ : Công ty may, sản xuất áo sơmi . thì phải tính định mức vải: áo người lớn 1,45m2/áo , áo trẻ em: 1,09m2/áo
Đơn giá vải : 30.000đ/m2 , khuy : 100đ/cái , chỉ : 15.000đ/cuộn ( một cuộn may được 100áo người lớn, hoặc 150áo trẻ em. Chi phí sản xuất chung ước tính khoản 200đ/cái áo , Tiền lương + BH : ước tính 17.000đ/áo người lớn, 15.000đ/áo trẻ em
Giá thành định mức :
Áo người lớn : 1,45 x 30.000 + 8 x 100 + 15.000/100 + 200+17.000 = 61.650đ
Áo trẻ em : 1,09 x30.000 + 7 x 100 + 15.000/150 + 200 + 15.000= 48.700đ
Có giá thành đó, công ty mới xem xét lại có nên sản xuất sản phẩm này hay không?
Khi giá thành thực tế cao hơn giá thành định mức, công ty phải phân tích nguyên nhân, những yếu tố nào làm tăng, những yếu tố làm giảm, có thể là do giá, có thể do thiết kế lên khuôn vải để cắt không khoa học, từ đó điều chỉnh.
Giá thành thực tế giúp cho Ban giám đốc so với giá thành định mức, để điều chỉnh những mặt yếu kém trong sản xuất. Giá thành thực tế là cơ sở để thiết lập lại định mức cho ký sản xuất sau và làm cơ sở cho việc lập kế hoạch giá thành kỳ sau. Số liệu về giá thành được Ban giám đốc, Phòng kế hoạch- kỹ thuật ghi sổ để theo dõi
Về mặt kế toán chỉ có giá thành thực tế, nếu giá thành hạch toán( tạm hạch toán khi chưa tính được giá thành thực tế) có sai lệch lớn so với giá thành thực tế thì điều chỉnh, nếu sai lệch nhỏ thỉ không cần thiết.
Vì trong sản xuất, có thể một phân xưởng sản xuất nhiều nhóm sản phẩm, có giá thành khác nhau, nên bạn kiểm tra xem giá hạch toán có phù hợp với giá thành thực tế không?
Muốn kiểm tra bạn phải thống kê, xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
Trong ký bạn đã hạch toán
Nợ 154/ có 621,622,627
Và Nợ 155/ Có 154
Đây là một trong nhiều cách kiểm tra, bạn tham khảo nhé:
Bạn xem số dư TK 154 :
Nếu số dư TK 154 > chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ : như vậy giá trị nhập kho thành phẩm thấp hợn thật tế, do giá thành nhập kho đã hạch toán thấp
Nếu số dư TK 154 < chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ ( có khi còn bị âm nữa) như vậy giá trị nhập kho thành phẩm cao hợn thật tế, do giá thành nhập kho đã hạch toán thấp. Và khi tạm tính như vậy mà số dư TK154 âm thì không thể chấp nhận, bạn phải điều chỉnh lại giá đã nhập kho sao cho số dư TK 154 xấp xỉ số liệu chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ.