N
nhungpt59
Cao cấp
- 25/7/03
- 324
- 1
- 0
Tôi lại xin đưa ra đây một VD có thật 100% của một đơn vị khi cán bộ thuế xuống QT thuế tại đơn vị.
1. Đơn vị này kinh doanh thương mại trong lĩnh vực viễn thông. Doanh nghiệp có cửa hàng kinh doanh bán điện thoại di động và thẻ, sim điện thoại.
2. Doanh nghiệp mua mặt hàng thẻ điện thoại tại các đại lý lớn của vina, mobi, vietel. (Có hợp đồng khung về mua bán hai bên - vì mặt hàng này giá cả tăng giảm từng ngày)
3. Hàng tháng DN nhận hàng theo từng đợt và bên bán xuất hóa đơn cho bên mua theo giá thực bán. (Thấp hơn mệnh giá thật của thẻ)
4. Bên mua bán lại cho đơn vị bán lẻ khác theo giá kinh doanh của đơn vị (Thấp hơn giá trị thật của thẻ) và bán lẻ cho khách cũng thấp hơn giá trị thật của thẻ. VD: bán thẻ Mobi mệnh giá 100.000đ thì bán giá 97.000đ. và xuất hóa đơn theo đúng giá trị mà đơn vị bán hàng.
Theo hợp đồng kinh tế mua đứt bán đoạn của các bên thì DN có quyền mua thấp bán thấp, miễn sáo DN kinh doanh có lãi. DN xuất hóa đơn chứng từ đầy đủ không phạm luật. Lợi nhuận gộp của DN chính là phần chênh lệch giữa giá mua và giá bán.
Sẽ là bình thường không có vấn đề gì xảy ra nếu không có một CV của bộ bưu chính viễn thông là các thẻ điện thoại viễn thông được bán đúng mệnh giá.
Cán bộ thuế xuống DN kiểm tra đã dựa vào CV này và yêu cầu truy thu của DN toàn bộ số tiền chênh lệch giữa giá bán thật của DN với mệnh giá thật của thẻ, và truy thu thuế TNDN phần chênh lệch này.
Số tiền khống này (Thực chất là DN không bán và mua theo đúng 100% mệnh giá thẻ) thì doanh nghiệp hạch toán vào đâu? Dòng tiền khống này xử lý như thế nào khi thực tế là nó không hề phát sinh có? Và thuế thu nhập của DT khống này thì lấy ở đâu ra khi DN không hề thu được số tiền này?
Vậy các đại lý bán thẻ điện thoại hiện nay đang xuất hóa đơn theo giá trị hàng bán thì đã đơn vị nào "được" các cán bộ thuế nâng giá bán lên bằng 100% mệnh giá để tính vào DT và truy thu thuế TNDN như thế này chưa nhỉ?
trong khi thị trường vẫn mua bán giá trị thẻ thấp hơn mệnh giá ghi trên thẻ.
Ở đây CV của bộ bưu chính viễn thông sai hay cán bộ thuế ???
1. Đơn vị này kinh doanh thương mại trong lĩnh vực viễn thông. Doanh nghiệp có cửa hàng kinh doanh bán điện thoại di động và thẻ, sim điện thoại.
2. Doanh nghiệp mua mặt hàng thẻ điện thoại tại các đại lý lớn của vina, mobi, vietel. (Có hợp đồng khung về mua bán hai bên - vì mặt hàng này giá cả tăng giảm từng ngày)
3. Hàng tháng DN nhận hàng theo từng đợt và bên bán xuất hóa đơn cho bên mua theo giá thực bán. (Thấp hơn mệnh giá thật của thẻ)
4. Bên mua bán lại cho đơn vị bán lẻ khác theo giá kinh doanh của đơn vị (Thấp hơn giá trị thật của thẻ) và bán lẻ cho khách cũng thấp hơn giá trị thật của thẻ. VD: bán thẻ Mobi mệnh giá 100.000đ thì bán giá 97.000đ. và xuất hóa đơn theo đúng giá trị mà đơn vị bán hàng.
Theo hợp đồng kinh tế mua đứt bán đoạn của các bên thì DN có quyền mua thấp bán thấp, miễn sáo DN kinh doanh có lãi. DN xuất hóa đơn chứng từ đầy đủ không phạm luật. Lợi nhuận gộp của DN chính là phần chênh lệch giữa giá mua và giá bán.
Sẽ là bình thường không có vấn đề gì xảy ra nếu không có một CV của bộ bưu chính viễn thông là các thẻ điện thoại viễn thông được bán đúng mệnh giá.
Cán bộ thuế xuống DN kiểm tra đã dựa vào CV này và yêu cầu truy thu của DN toàn bộ số tiền chênh lệch giữa giá bán thật của DN với mệnh giá thật của thẻ, và truy thu thuế TNDN phần chênh lệch này.
Số tiền khống này (Thực chất là DN không bán và mua theo đúng 100% mệnh giá thẻ) thì doanh nghiệp hạch toán vào đâu? Dòng tiền khống này xử lý như thế nào khi thực tế là nó không hề phát sinh có? Và thuế thu nhập của DT khống này thì lấy ở đâu ra khi DN không hề thu được số tiền này?
Vậy các đại lý bán thẻ điện thoại hiện nay đang xuất hóa đơn theo giá trị hàng bán thì đã đơn vị nào "được" các cán bộ thuế nâng giá bán lên bằng 100% mệnh giá để tính vào DT và truy thu thuế TNDN như thế này chưa nhỉ?
trong khi thị trường vẫn mua bán giá trị thẻ thấp hơn mệnh giá ghi trên thẻ.
Ở đây CV của bộ bưu chính viễn thông sai hay cán bộ thuế ???

