@Hien; @dknylove; bữa giờ đọc bài này, tại mình cũng có thắc mắc chỗ này nên tiện trao đổi luôn với 2 bác:
- Một mặt TT 200 hướng dẫn dự phòng phải trả cho phép trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ nhưng là đối với những TSCĐ sửa chữa theo định kỳ (theo yêu cầu kỹ thuật): “Dự phòng phải trả khác, bao gồm cả khoản dự phòng trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật, khoản dự phòng cho việc sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ định kỳ (theo yêu cầu kỹ thuật)”
- Mặt khác cũng TT 200 trong TK 242 lại cho phân bổ chi phí sửa chữa lớn, và có nói thêm là áp dụng trong trường hợp không trích trước: "Chi phí sửa chữa TSCĐ phát sinh một lần có giá trị lớn doanh nghiệp không thực hiện trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, phân bổ tối đa không quá 3 năm;".
- Trong TT 45 thì qui định: "Các chi phí sửa chữa tài sản cố định không được tính tăng nguyên giá TSCĐ mà được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong kỳ, nhưng tối đa không quá 3 năm. Đối với những tài sản cố định mà việc sửa chữa có tính chu kỳ thì doanh nghiệp được trích trước chi phí sửa chữa theo dự toán vào chi phí hàng năm."
=> Như vậy có thể hiểu việc trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ chỉ áp dụng đối với những khoản sửa chữa có tính chu kỳ, biết trước và có kế hoạch từ trước. Còn những khoản chi phí sửa chữa phát sinh đột biến và không dự báo được thì không trích trước (tất nhiên vì có biết đâu mà trích) và tiến hành phân bổ tối đa 3 năm.
Về quan điểm cá nhân mình, việc sửa chữa lớn TSCĐ có thể phân thành 3 trường hợp như sau:
1. Đối với những TSCĐ thông thường, không biết trước và không có kế hoạch cho việc sửa chữa:
- Do không có căn cứ nên đương nhiên không được trích trước chi phí sửa chữa lớn cho tới khi phát sinh hư hỏng đột biến.
- Khi phát sinh việc hư hỏng và dự kiến sẽ mất một khoản chi phí lớn để sửa chữa đưa TSCĐ trở về trạng thái hoạt động đúng chuẩn, như vậy mặc dù lúc này chưa phát sinh sửa chữa, tuy nhiên TSCĐ đã bị hư hỏng, đã có thiệt hại. Đơn vị cần ghi nhận một khoản chi phí dự phòng cho việc sửa chữa để phản ánh đúng tình trạng tài sản của đơn vị trên BCTC. Giá trị khoản này phải tương ứng với toàn bộ giá trị phải bỏ ra để sửa TSCĐ trở về đúng trạng thái chưa hỏng, chứ không được trích từng phần trước, trong và sau khi sửa.
- Tuy nhiên theo TT 200 cũng như TT 45, khoản chi phí sửa chữa này được phép phân bổ tối đa 03 năm.
- Trong Chuẩn mực kế toán TSCĐ có qui định về chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu như sau: “Việc hạch toán các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ hữu hình phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể và khả năng thu hồi các chi phí phát sinh sau. Khi giá trị còn lại của TSCĐ hữu hình đã bao gồm các khoản giảm về lợi ích kinh tế thì các chi phí phát sinh sau để khôi phục các lợi ích kinh tế từ tài sản đó sẽ được tính vào nguyên giá TSCĐ nếu giá trị còn lại của TSCĐ không vượt quá giá trị có thể thu hồi từ tài sản đó.”
=> Theo mình đoạn bôi đậm này có thể hiểu: Nếu giá trị còn lại đã thể hiện sự suy giảm giá trị, thì chi phí sửa chữa có thể tăng nguyên giá. Tuy nhiên khi một TSCĐ bị hư hỏng, trong giá trị còn lại chưa thể hiện được sự sụt giảm về mặt giá trị, mà vẫn thể hiện giá trị còn lại khi nó chưa hỏng. Như vậy chi phí sửa chữa chủ yếu chỉ nhằm mục đích khôi phục lại giá trị sử dụng của nó, do TS chưa ghi nhận sự hư hỏng (giảm giá) nên chi phí sửa chữa ko làm tăng giá trị tài sản, như vậy khoản chi phí này cần phản ánh toàn bộ vào chi phí kinh doanh trong kỳ mới đúng chứ ko được phép phân bổ, vì 1 khoản chi phí phân bổ mang tính chất tương tự như 1 khoản khấu hao tài sản. Tuy nhiên nếu phân tích kỹ, việc sửa chữa dẫn tới thay thế một số thiết bị, làm mới 1 số bộ phận vẫn góp phần nhỏ làm tăng giá trị sử dụng của tài sản lên, có lẽ vì thế nên khi áp dụng vẫn được phép phân bổ trong 3 năm hoặc đưa vào chi phí 1 lần tùy DN.
2. Đối với những TSCĐ có qui định về việc sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ theo yêu cầu kỹ thuật, những TS này khi mua về đã có kế hoạch hoạt động, bảo dưỡng, duy tu theo trình tự thời gian nhất định để đảm bảo nó hoạt động theo đúng tuổi thọ và công suất. Ví dụ TSCĐ A có tuổi thọ kỹ thuật 10 năm, nguyên giá 10 tỷ đồng. Theo kế hoạch kỹ thuật cứ 2 năm phải duy tu bảo dưỡng toàn bộ 1 lần, chi phí dự kiến 400 triệu đồng, sau 5 năm phải thay 1 bộ phận B trị giá 01 tỷ đồng mới đảm bảo được tuổi thọ và công suất.
=> Việc sửa chữa, bảo dưỡng, thay thế thiết bị là để phục vụ cho lợi ích tài sản mang lại sau này, không dành cho thời gian trước đó. Với giá trị 10 tỷ đồng bỏ ra ban đầu, TSCĐ chắc chắn 100% sẽ hoạt động tốt trong 2 năm đầu tiên. Hết 2 năm, để đảm bảo nó hoạt động theo đúng công suất và tuổi thọ 10 năm, thì cần bảo dưỡng 200tr. Như vậy cái chi phí bảo dưỡng này phục vụ cho 08 năm còn lại, chả liên quan gì tới 2 năm đầu tiên cả mà trích trước.
3. Phân biệt giữa sửa chữa và nâng cấp:
Trong phần chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu của CMKT TSCĐ cũng qui định: “Chi phí về sửa chữa và bảo dưỡng TSCĐ hữu hình nhằm mục đích khôi phục hoặc duy trì khả năng đem lại lợi ích kinh tế của tài sản theo trạng thái hoạt động tiêu chuẩn ban đầu được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ”.
=> Như vậy việc sửa chữa chỉ để khôi phục lại hiện trạng ban đầu thì được xem là 1 khoản chi phí. Nếu việc sửa chữa nâng cao giá trị sử dụng của tài sản so với hiện trạng ban đầu thì đó là một khoản đầu tư nâng cấp, phải hạch toán vào nguyên giá TSCĐ. Thông thường nếu việc tách biệt giữa sửa chữa và nâng cấp không thật sự rõ ràng thì nên đưa vào chi phí sửa chữa lớn và phân bổ. Hiện trạng ban đầu ở đây theo mình không được hiểu là khi nó mới đem vào sử dụng, mà phải hiểu là tại thời điểm trước khi hỏng.
Ví dụ: 1 dây chuyền sản xuất gồm máy sản xuất, băng chuyền, dự kiến khấu hao trong 10 năm. Tới 5 năm thì phần băng chuyền bị hỏng, nếu việc sửa chữa chỉ để khắc phục lại nguyên trạng băng chuyền tại thời điểm đã khấu hao 5 năm => Đưa vào chi phí sửa chữa; nếu việc sửa chữa bằng cách thay mới toàn bộ băng chuyền, sau khi thay băng chuyền này trở thành nguyên trạng mới 100% và có thể sử dụng tiếp cho 10 năm tới (tạm xem sau này phải thay máy sản xuất tương ứng) thì có thể xem như đây là nâng cấp. Tuy nhiên nếu xét kỹ bản chất, thì không thể hạch toán toàn bộ băng chuyền mới vào nâng cấp, trong giá trị này vẫn phải tách thành 50% giá trị vào sửa chữa lớn tương ứng với cái thiệt hại do hư hỏng bằng chuyền cũ gây nên (băng chuyền cũ đã khấu hao hết 5 năm - còn lại 50% giá trị), 50% còn lại tăng TSCĐ, hay nói 1 cách khác giống như thanh lý 1 phần của TSCĐ là cái băng chuyền cũ để ghi nhận toàn bộ cái băng chuyền mới vào nguyên giá.