Q
Chào Anh/Chị. Em có vấn đề sau rất mong được giải đáp.
Hiện tại em đang làm sổ sách cho 1 công ty từ 2011 - nay. Có vấn đề này em tìm mãi chưa ra hướng giải quyết. Đó là xuất khống hóa đơn (không có hóa đơn đầu vào, nhưng lại xuất hàng ra), đơn giá toàn trên 1 triệu - chục triệu nên không thể tự xử lý hóa đơn đầu vào bằng những hóa đơn bán lẻ <200k được.
Tính làm hợp đồng vay mượn hàng hóa, vì từ 2015 hàng hóa vay mượn ko phải xuất hóa đơn, nhưng sau khi đọc bài viết này xong thì cũng không thể làm hợp đồng vay mượn được.
http://ketoanthienung.net/cho-vay-mượn-hàng-hóa-có-phải-lập-hóa-đơn-khống.htm
" Tại Điều 512, Điều 517 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định:
- Hợp đồng mượn tài sản: “ Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, còn bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được”.
- Quyền của bên cho mượn tài sản: “ … Đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn…”
Như vậy, bên cho mượn là chủ sở hữu đối với tài sản và có quyền định đoạt đối với tài sản cho mượn. Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản khi được sự ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 8 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, khoản 2a Điều 4 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính thì thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng (GTGT), xác địnhdoanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hoạt động bán hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa cho người mua.
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp trong Hợp đồng “mượn” hàng hóa có thỏa thuận bên mượn được phép bán hàng hóa của bên cho mượn thì Hợp đồng “mượn” hàng hóa nêu trên thực chất là Hợp đồng mua bán hàng hóa, bên bán (tức bên cho “mượn”) phải xuất hóa đơn bán hàng hóa cho bên mua (bên “mượn”) theo quy định. Trường hợp Công ty của Ông (Bà) có mượn hàng hóa của nhà cung cấp hoặc đối tác theo đúng quy định về Hợp đồng mượn tài sản (hàng hóa) quy định tại Bộ luật dân sự, sau đó Công ty của Ông (Bà) đem tài sản (hàng hóa) mượn để bán ra cho khách hàng là không đúng quy định vì hàng hóa đó không thuộc quyền sở hữu và quyền định đoạt của Công ty của Ông (Bà)."
Giờ giải quyết hàng hóa âm này như thế nào ạ. Từ 2011 đến nay, 1 mặt hàng ít thì âm vài chục chiếc, nhiều thì âm hơn 1 ngàn chiếc.
Khóc.
Cảm ơn ạ!
Hiện tại em đang làm sổ sách cho 1 công ty từ 2011 - nay. Có vấn đề này em tìm mãi chưa ra hướng giải quyết. Đó là xuất khống hóa đơn (không có hóa đơn đầu vào, nhưng lại xuất hàng ra), đơn giá toàn trên 1 triệu - chục triệu nên không thể tự xử lý hóa đơn đầu vào bằng những hóa đơn bán lẻ <200k được.
Tính làm hợp đồng vay mượn hàng hóa, vì từ 2015 hàng hóa vay mượn ko phải xuất hóa đơn, nhưng sau khi đọc bài viết này xong thì cũng không thể làm hợp đồng vay mượn được.
http://ketoanthienung.net/cho-vay-mượn-hàng-hóa-có-phải-lập-hóa-đơn-khống.htm
" Tại Điều 512, Điều 517 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định:
- Hợp đồng mượn tài sản: “ Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, còn bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được”.
- Quyền của bên cho mượn tài sản: “ … Đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn…”
Như vậy, bên cho mượn là chủ sở hữu đối với tài sản và có quyền định đoạt đối với tài sản cho mượn. Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản khi được sự ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 8 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, khoản 2a Điều 4 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính thì thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng (GTGT), xác địnhdoanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hoạt động bán hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa cho người mua.
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp trong Hợp đồng “mượn” hàng hóa có thỏa thuận bên mượn được phép bán hàng hóa của bên cho mượn thì Hợp đồng “mượn” hàng hóa nêu trên thực chất là Hợp đồng mua bán hàng hóa, bên bán (tức bên cho “mượn”) phải xuất hóa đơn bán hàng hóa cho bên mua (bên “mượn”) theo quy định. Trường hợp Công ty của Ông (Bà) có mượn hàng hóa của nhà cung cấp hoặc đối tác theo đúng quy định về Hợp đồng mượn tài sản (hàng hóa) quy định tại Bộ luật dân sự, sau đó Công ty của Ông (Bà) đem tài sản (hàng hóa) mượn để bán ra cho khách hàng là không đúng quy định vì hàng hóa đó không thuộc quyền sở hữu và quyền định đoạt của Công ty của Ông (Bà)."
Giờ giải quyết hàng hóa âm này như thế nào ạ. Từ 2011 đến nay, 1 mặt hàng ít thì âm vài chục chiếc, nhiều thì âm hơn 1 ngàn chiếc.
Khóc.
Cảm ơn ạ!

