Định mức – BOM Quầy đồ uống: đối chiếu tồn kho theo định mức và tồn thực tế bằng một ví dụ

Định mức nguyên liệu, nhân công, BOM và hao hụt

ANCORE

Sơ cấp
Khi kiểm kho quầy đồ uống, chỉ so số chai mua vào với số ly bán ra thường chưa đủ. Cần quy về cùng đơn vị và tách lượng dùng theo công thức khỏi các khoản xuất khác.

Tôi chia sẻ một ví dụ giả định để minh họa cách lập bảng quản trị nội bộ. Đây không phải số liệu của một quán thực tế và không phải hướng dẫn hạch toán hay xử lý thuế.

1. Chốt một nguyên liệu, một đơn vị, một kỳ kiểm kê

Ví dụ theo dõi siro bằng ml trong một tuần, đếm tồn đầu và cuối cùng thời điểm chốt ca. Không lấy số ly của cả tuần để so với tồn kho được đếm trước khi kết thúc bán hàng.

Nếu nhãn ghi khối lượng kg mà công thức dùng ml, không tự coi 1 kg = 1.000 ml. Cần đo hoặc có thông số quy đổi phù hợp cho đúng nguyên liệu.

2. Ví dụ đối chiếu

Giả sử trong tuần:
- Tồn đầu: 4.000 ml.
- Nhập vào: 6.000 ml.
- Món A bán 120 ly, định mức 20 ml/ly: 2.400 ml.
- Món B bán 80 ly, định mức 15 ml/ly: 1.200 ml.
- Tổng dùng theo định mức cho ly bán: 3.600 ml.
- Dùng thử, đào tạo đã ghi nhận: 200 ml.
- Đổ bỏ đã ghi nhận: 100 ml.
- Không có chuyển kho, trả hàng hoặc khoản xuất khác.

Tồn cuối dự kiến = 4.000 + 6.000 - 3.600 - 200 - 100 = 6.100 ml.
Nếu kiểm kê thực tế được 5.800 ml thì chênh lệch chưa giải thích = 5.800 - 6.100 = -300 ml.

Lượng giảm tồn thực tế là 4.000 + 6.000 - 5.800 = 4.200 ml. Sau khi trừ 300 ml dùng thử và đổ bỏ đã biết, còn 3.900 ml so với 3.600 ml định mức cho ly bán. Hai cách đối chiếu đều cho ra 300 ml cần tìm nguyên nhân.

3. Chưa vội gọi toàn bộ 300 ml là thất thoát

Kiểm tra lần lượt:
- Có bỏ sót ly tặng, ly làm lại hoặc nguyên liệu chuyển sang quầy khác không?
- Có đổi công thức, đổi cỡ ly hoặc cho khách thêm nguyên liệu nhưng chưa cập nhật định mức không?
- Số lượng món xuất từ POS có khớp đúng kỳ và có tách món hủy trước pha với món đã pha rồi hủy không?
- Đã tính phần nguyên liệu trong bình chiết, chai đang mở và đồ uống sơ chế chưa?
- Dụng cụ đong và cách đo tồn có nhất quán không?

Chỉ sau khi đối chiếu chứng từ vận hành và đo lại mới phân loại nguyên nhân. Không dùng một tỷ lệ hao hụt cố định để tự hợp thức hóa chênh lệch.

4. Các cột tối thiểu cho bảng theo dõi

Mã nguyên liệu | Đơn vị | Tồn đầu | Nhập | Xuất chuyển/trả | Dùng theo ly bán | Dùng khác có ghi nhận | Tồn dự kiến | Tồn kiểm kê | Chênh lệch | Giải thích/người xác nhận.

Nếu công thức có bán thành phẩm như cốt trà hoặc sốt tự nấu, nên theo dõi riêng mẻ đầu vào và sản lượng thu được. Không vừa trừ nguyên liệu đầu vào của mẻ, vừa trừ lần nữa khi bán ly.

Về giá trị tiền, cần chọn phương pháp tính giá xuất kho phù hợp và dùng nhất quán; bảng ml ở trên chỉ giải quyết phần số lượng. Không lấy giá mua gần nhất nhân chênh lệch rồi mặc định đó là số điều chỉnh sổ kế toán.

Tôi đăng từ tài khoản ANCORE, đơn vị phân phối nguyên liệu pha chế. Bài viết tập trung vào đối chiếu định mức và tồn kho; mong nhận thêm góp ý về cách theo dõi bán thành phẩm ở các quầy có nhiều ca.
 
Back
Top