F
Theo TT 179/2012/TT-BTC ngày 24/10/2012 quy định về việc ghi nhận, đánh giá, xử lý các khoản CLTG hối đoái trong Doanh nghiệp có hiệu lực kể từ ngày 10/12/2012, quy định :
Điều 3. Tỷ giá quy đổi ngoại tệ ra “Đồng” Việt Nam:
1. Đối với việc thanh toán các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ phát sinh trong năm tài chính thì thực hiện theo tỷ giá thực tế tại thời điểm phát sinh giao dịch ngoại tệ của Ngân hàng Thương mại nơi doanh nghiệp có giao dịch phát sinh theo quy định của pháp luật.
Theo các Luật thuế hiện hành đều quy định sử dụng tỷ giá hối đoái trong quan hệ với NSNN về nghĩa vụ thuế khoá là tỷ giá trên thị trường giao dịch liên ngân hàng và tại Công văn số 4355/BTC-TCT ngày 03/04/2012 hướng dẫn đồng tiền ghi trên hóa đơn bằng ngoại tệ phải quy đổi ra VND theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng tại thời điểm phát sinh giao dịch và TT153 về hóa đơn bán hàng khi viết hóa đơn bằng ngoại tệ chuyển đổi sang VND phải dùng tỷ giá liên ngân hàng.
Tuy nhiên thực tế các DN mua bán lẫn nhau giao kết hợp đồng mua bán theo luật dân sự bằng USD bắt buộc chuyển đổi sang VND hầu hết lấy tỷ giá mua bán của ngân hàng mình mở tk để có lợi cho việc bán hàng hơn là lấy tỷ giá bq liên ngân hàng.
Vậy trường hợp mà các văn bản pháp luật có sự “kênh” nhau, nếu như không muốn nói là “chồng chéo” hoặc mâu thuẫn nhau thì cách làm tốt nhất có lợi cho DN là lấy tỷ giá mua bán theo TT179 khi chuyển đổi usd sang vnd để khai thuế GTGT (bảng kê bán ra) và nộp thuế.
Còn nếu DN được ghi sổ bằng usd mà cuối năm chuyển đổi sang VND để lập BCTC và khai quyết toán thuế TNDN thì lấy tỷ giá bp liên ngân hàng.
Vì vậy sẽ có sự chênh lệch giữa Doanh thu khai thuế VAT cả năm (lấy tỷ giá mua bán ngân hàng) và doanh thu khi chuyển đổi BCTC (lấy tỷ giá bq liên ngân hàng theo quy định của thuế), kế toán lại phải vất vả xử lý doanh thu khi tính TN chịu thuế TNDN.
Các Anh/Chị nào có hướng xử lý tốt nhất cho vấn đề này chia sẽ với ?
Điều 3. Tỷ giá quy đổi ngoại tệ ra “Đồng” Việt Nam:
1. Đối với việc thanh toán các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ phát sinh trong năm tài chính thì thực hiện theo tỷ giá thực tế tại thời điểm phát sinh giao dịch ngoại tệ của Ngân hàng Thương mại nơi doanh nghiệp có giao dịch phát sinh theo quy định của pháp luật.
Theo các Luật thuế hiện hành đều quy định sử dụng tỷ giá hối đoái trong quan hệ với NSNN về nghĩa vụ thuế khoá là tỷ giá trên thị trường giao dịch liên ngân hàng và tại Công văn số 4355/BTC-TCT ngày 03/04/2012 hướng dẫn đồng tiền ghi trên hóa đơn bằng ngoại tệ phải quy đổi ra VND theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng tại thời điểm phát sinh giao dịch và TT153 về hóa đơn bán hàng khi viết hóa đơn bằng ngoại tệ chuyển đổi sang VND phải dùng tỷ giá liên ngân hàng.
Tuy nhiên thực tế các DN mua bán lẫn nhau giao kết hợp đồng mua bán theo luật dân sự bằng USD bắt buộc chuyển đổi sang VND hầu hết lấy tỷ giá mua bán của ngân hàng mình mở tk để có lợi cho việc bán hàng hơn là lấy tỷ giá bq liên ngân hàng.
Vậy trường hợp mà các văn bản pháp luật có sự “kênh” nhau, nếu như không muốn nói là “chồng chéo” hoặc mâu thuẫn nhau thì cách làm tốt nhất có lợi cho DN là lấy tỷ giá mua bán theo TT179 khi chuyển đổi usd sang vnd để khai thuế GTGT (bảng kê bán ra) và nộp thuế.
Còn nếu DN được ghi sổ bằng usd mà cuối năm chuyển đổi sang VND để lập BCTC và khai quyết toán thuế TNDN thì lấy tỷ giá bp liên ngân hàng.
Vì vậy sẽ có sự chênh lệch giữa Doanh thu khai thuế VAT cả năm (lấy tỷ giá mua bán ngân hàng) và doanh thu khi chuyển đổi BCTC (lấy tỷ giá bq liên ngân hàng theo quy định của thuế), kế toán lại phải vất vả xử lý doanh thu khi tính TN chịu thuế TNDN.
Các Anh/Chị nào có hướng xử lý tốt nhất cho vấn đề này chia sẽ với ?

