Để hiểu được cái này phải hiểu kỹ về VAT một chút.
VAT đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, tài sản, dịch vụ trong quá trình kd. Đây là loại thuế gián thu (thu gián tiếp) và thực chất người tiêu dùng (mua về để dùng) mới là người phải chịu thuế này. Do đó, khi mua hàng thuộc diện chịu VAT về để bán lại hoặc để sản xuất, kd hàng hóa chịu VAT DN không phải là người chịu thuế này. Để dễ thu thuế này, Nhà nước yêu cầu DN thay mặt người mua tương lai tạm nộp trước số tiền thuế (thông qua người bán). Khi bán hàng, DN lại thu hộ số thuế VAT từ người mua. Cuối kỳ, DN đối trừ giữa phần VAT đầu ra với đầu vào để xác định số VAT phải nộp (chính là số thuế của phần giá trị tăng thêm).
VAT phải nộp = Thuế suất x Phần giá trị tăng thêm = Thuế suất x (Trị giá bán - Trị giá mua) = Thuế suất x Trị giá bán - Thuế suất x Trị giá mua = VAT đầu ra - VAT đầu vào
- VAT đầu vào được coi là TS vì: VAT đầu vào là lợi ích DN sẽ thu lại. Theo định nghĩa tài sản của Chuẩn mực kế toán thì cái gì DN đang kiểm soát, xác định được giá trị và đem lại lợi ích cho DN được gọi là TS. VAT đầu vào là lợi ích DN tạm ứng trước và sẽ thu lại khi khấu trừ nên nó TS và thuộc loại khoản phải thu (TK nhóm 13).
- VAT đầu ra được coi là nguồn vốn vì nó là khoản DN thu hộ tức là sau đó phải trả lại cho ngân sách nên nó là nợ phải trả (TK loại 3).
Khi VAT ra > VAT vào: DN phải nộp phần chênh lệch vì số DN thu hộ Nhà nước lớn hơn số đã ứng trước.
Khi VAT ra = VAT vào: DN không phải nộp thuế vì số đã ứng đúng bằng số đã thu hộ Nhà nước.
Khi VAT ra < VAT vào: DN không những không phải nộp mà Nhà nước còn phải hoàn thuế cho DN vì số DN đã ứng lớn hơn số DN thu hộ được cho ngân sách.