Giá vốn hàng hoá thương mại
Em không làm thuần về thương mại nên không rõ lắm. Tuy nhiên về cơ bản, em vẫn nghĩ các chi phí nhận hàng (tạm gọi các khoản phí khác như THC, D/O...phát sinh khi nhận hàng như thế) nên hạch toán vào giá vốn hàng hoá thương mại TK632 hơn là vào chi phí quản lý TK642.
Một số các phần mền không xử lý được việc ghi nhận các chi phí nhận hàng theo hàng hoá để nhập kho bởi vì sự xuất hiện các chi phí này là thường xuyên không đồng bộ với hàng hoá khi mua vào, ví dụ thuế nhập khẩu, tiền vận chuyển, chi phí nhận hàng khác...nên các nơi này sẽ tách chi chí nhận hàng riêng ra khỏi gía vốn hàng hoá mua vào.
Giá vốn hàng hoá mua vào thì tập hợp vào tài khoản 1561 có gắn kết với từng mã hàng hoá trong kho. Chi phí mua hàng thì tập hợp vào TK1562 nhưng không gắn kết với mã hàng hoá. Từ đây chi phí nhận hàng sẽ được kết chuyển vào giá vốn hàng bán tương ứng với lượng hàng bán ra. Số dư TK1562 là giá trị chi phí nhận hàng tương ứng với hàng tồn kho.
Để tính toán giá trị chi phí nhận hàng kết chuyển vào giá vốn hàng bán hay giữ lại trên TK1562 có thể dùng phuơng pháp tỷ lệ hoặc chỉ chú trọng cho mặt hàng có khối lượng và gía trị chi phí cao, tỷ trọng lớn. Như vậy phần giá trị nào tách được theo giá trị hàng hoá đi vào TK1561 như trường hợp thuế nhập khẩu bạn Omely nêu cũng được.
Một số nơi còn không xử lý, sử dụng được TK1562-mang tính chất chi phí tách bạch với TK1561-mang tính chất kho hàng hoá như trên thì chọn phương pháp chẳng đặng đừng là đưa thẳng chi phí nhận hàng vào giá vốn hàng bán như chĩ kế toán khả ái kia đã làm. Tuy nhiên, nếu làm tỉ mĩ hơn thì cần phải tách giá trị chi phí tương ứng với hàng tồn kho chưa tiêu thụ về lại gí trị hàng tồn kho tại ngày khoá sổ mới đúng: ghi có 632 ghi nợ 156 (có thể dùng phương pháp tỷ lệ kể trên). Giá vốn hàng hoá tự thân nó là một cô gái đỏng đảnh mà.