Đánh giá sản phẩm dở dang

  • Thread starter 0985343474
  • Ngày gửi
0

0985343474

Guest
22/5/09
10
0
0
39
Việt Trì_ Phú Thọ
Nêu phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang trong đơn vị KD xây lắp ?
Ai có câu trả lời thì giúp mình nha!cảm ơn nhiều!
 
Khóa học Quản trị dòng tiền
Marlboro

Marlboro

Yes, I can !
27/7/08
739
19
18
Hà Nội
www.google.com
Chú tham khảo thử cái này xem có giúp gì được không: (Híc, do diễn đàn giới hạn file attached < 100k nên anh bụp luôn vào đây. Chú Copy & Paste ra mà tham khảo nhé.
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT


- Phương pháp kế toán tài sản cố định (TSCĐ):
+ Nguyên tắc xác định nguyên giá TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra tính đến thời điểm đưa TSCĐ đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
+ Phương pháp khấu hao TSCĐ: Phương pháp khấu hao đường thẳng.
+ Tỉ lệ khấu hao TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình theo quy định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 về chế độ quản lý và trích khấu hao TSCĐ.
- Phương pháp kế toán hàng tồn kho:
+ Nguyên tắc đánh giá hàng tồn kho theo giá gốc và giá trị thuần có thể thực hiện được.
+ Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho cuối kì: Phương pháp tính giá thực tế đích danh.
+ Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Phương pháp kê khai thường xuyên.
- Tình hình trích lập và hoàn nhập dự phòng: Trong năm không có lập thêm khoản dự phòng nào do khoản dự phòng dự kiến cho năm tới bằng với số dư khoản dự phòng năm trước đã trích.
1.3.2. Tổ chức bộ máy kế toán
a) Cơ cấu bộ máy kế toán
- Bộ máy kế toán tại công ty có 6 nhân viên được tổ chức phân công phân nhiệm rõ ràng, gồm: 1 Kế toán trưởng, 1 Kế toán thanh toán, 1 Kế toán công trình, 1 Kế toán Hàng tồn kho-Lương-TSCĐ, 1 Kế toán tổng hợp và 1 Thủ quỹ.
- Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
b) Chức năng, nhiệm vụ của bộ máy kế toán:
c) Mô tả chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận trong bộ máy kế toán:
c1) Kế toán Trưởng (KTT):
c2) Kế toán tổng hợp:
* Công việc thường xuyên:
* Công việc định kì:
c3) Kế toán Thanh toán:
*Công việc thường xuyên:
* Công việc định kì:
c4) Kế toán Hàng tồn kho-Lương-TSCĐ:
* Công việc thường xuyên:
* Công việc định kì:
c5) Kế toán Công trình:
* Công việc thường xuyên:
* Công việc định kì:
c6) Thủ quỹ:
* Công việc thường xuyên:
* Công việc định kì:
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH CÔNG TRÌNH, HẠNG MỤC CÔNG TRÌNH TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
2.1. Những khác biệt trong hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp do ảnh hưởng của những đặc điểm riêng biệt trong sản xuất xây lắp
2.2. Một số khái niệm cơ bản về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
2.2.1. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
a) Chi phí sản xuất
b) Giá trị dự toán và Giá thành sản phẩm xây lắp
c) Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành

Chi phí sản xuất dở dang đầu kì
Chi phí sản xuất phát sinh trong kì

Tổng giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành (được bàn giao, nhập kho…)
Chi phí sản xuất dở dang cuối kì

2.2.2. Đối tượng hạch toán chi phí và đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp, kì tính giá thành
a) Mối quan hệ giữa đối tượng hạch toán chi phí và đối tượng tính giá thành
Đối tượng hạch toán chi phí và đối tượng tính giá thành có mối quan hệ vô cùng mật thiết.
b) Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn mà các chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp theo phạm vi giới hạn đó.
c) Đối tượng tính giá thành
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc do doanh nghiệp sản xuất ra và cần tính giá thành, giá thành đơn vị.
d) Kỳ tính giá thành
Do sản phẩm xây lắp được sản xuất theo từng Hợp đồng xây dựng, chu kì sản xuất dài, công trình, hạng mục công trình chỉ hoàn thành khi kết thúc một chu kì sản xuất sản phẩm cho nên kì tính giá thành thường được chọn là thời điểm mà công trình, hạng mục công trình hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng.
Hàng tháng, kế toán tiến hành tập hợp các chi phí sản xuất theo các đối tượng tính giá thành (Hợp đồng xây dựng). Khi nhận được Biên bản nghiệm thu bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng mới tiến hành xác định giá thành căn cứ trên các số liệu chi phí sản xuất đã tập hợp theo từng đối tượng từ khi bắt đầu thi công cho đến khi hoàn thành. Như vậy, kì tính giá thành có thể không phù hợp với kì báo cáo kế toán mà phù hợp với chu kì sản xuất sản phẩm.
2.3. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
2.3.1. Tổ chức hạch toán chi phí sản xuất
a) Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
* Phân loại vật liệu
* Phương pháp đánh giá vật liệu:
* Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
- Tài khoản (TK) sử dụng để tập hợp toàn bộ chi phí nguyên vật liệu dùng cho sản xuất thi công xây lắp phát sinh trong kì là tài khoản 621-“Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”. TK 621 cuối kỳ kết chuyển sang TK 154 nên không có số dư, có thể mở chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất để phục vụ cho việc tính giá thành cho từng đối tượng tính giá thành.
b) Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
* Các bộ phận cấu thành quỹ tiền lương trong doanh nghiệp xây lắp:
* Kế toán chi phí nhân công trực tiếp:
- Tài khoản sử dụng để tập hợp và kết chuyển số chi phí tiền công của công nhân sản xuất xây lắp trực tiếp là TK 622-“Chi phí nhân công trực tiếp”, cuối kỳ kết chuyển trực tiếp hết sang TK 154 nên TK 622 không có số dư. TK 622 không phản ánh chi phí trích 19% (BHXH, BHYT, KPCĐ).
c) Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công
* Phân loại chi phí sử dụng máy thi công
* Kế toán chi phí sử dụng máy thi công:
- Tài khoản sử dụng để hạch toán chi phí sử dụng máy thi công là TK 623-“Chi phí sử dụng máy thi công”. TK này không có số dư cuối kỳ.
d) Hạch toán chi phí sản xuất chung
* Phân loại chi phí sản xuất chung
* Kế toán chi phí sản xuất chung:
- Tài khoản sử dụng để tập hợp chi phí sản xuất chung là TK 627, không có số dư cuối kỳ.
e) Các phương pháp tập hợp chi phí trong xây lắp
- Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo sản phẩm hoặc đơn đặt hàng
- Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm
- Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo khu vực thi công hay theo bộ phận thi công
2.3.2. Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang trong xây lắp
a) Khái niệm
b) Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang ở doanh nghiệp xây lắp:
c) Các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang:
- Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo tỷ lệ sản phẩm hoàn thành tương đương
- Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí (giá thành) dự toán hay giá trị dự toán
2.3.3. Công tác tính giá thành sản phẩm xây lắp
a) Các phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp:
- Phương pháp tính giá thành trực tiếp (giản đơn)
- Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
- Phương pháp tổng cộng chi phí
- Phương pháp định mức
- Phương pháp tỷ lệ
- Phương pháp hệ số
b) Kế toán tính giá thành sản phẩm xây lắp
+ Phương pháp phân bổ chi phí sử dụng máy thi công
Đối với loại máy theo dõi được quá trình hoạt động và tập hợp được chi phí riêng cho từng loại máy, nhóm máy:
Đối với các loại máy mà chi phí phát sinh được tập hợp chung, việc phân bổ cho các đối tượng xây lắp phải áp dụng phương pháp hệ số tính đổi:
+ Phương pháp phân bổ chi phí sản xuất chung
- Tài khoản sử dụng để tính giá thành là TK 154-Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.
CHƯƠNG 3
KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG CÔNG NGHIỆP DESCON
A) TÌNH HÌNH THỰC TẾ Ở ĐƠN VỊ
Khi nhận được thông báo mời thầu từ chủ đầu tư, dưới sự chỉ đạo của Ban Giám đốc, bộ phận tư vấn kĩ thuật sẽ tổ chức tính dự toán cho công trình và tiến hành công tác đấu thầu. Nếu chủ đầu tư chấp thuận, hai bên tiến hành ký kết Hợp đồng xây dựng. Đối với mỗi Hợp đồng xây dựng được ký kết, công ty có thể trực tiếp tổ chức thi công hoặc giao lại cho các Xí nghiệp và nhận phần trăm trên lợi nhuận hàng năm của Xí nghiệp. Trong suốt quá trình tổ chức thi công từ khi bắt đầu đến khi hoàn thành bàn giao công trình, bộ máy kế toán của công ty cũng đồng thời tổ chức theo dõi, hạch toán kế toán đối với các khoản chi phí sản xuất phát sinh và tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành bàn giao. Đây là một công việc không kém phần quan trọng và hết sức được quan tâm tại công ty.
3.1. Đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành
3.1.1. Đối tượng tập hợp chi phí
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng công trình, hạng mục công trình theo mỗi Hợp đồng xây dựng được ký kết.
3.1.2. Đối tượng tính giá thành
Đối tượng tính giá thành tại công ty là từng công trình hay hạng mục công trình hoàn thành bàn giao tùy theo Hợp đồng xây dựng được ký kết.
3.1.3. Kỳ tính giá thành
Với cách xác định đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành như trên, kế toán của công ty chỉ tính giá thành khi nhận được Biên bản nghiệm thu bàn giao công trình, hạng mục công trình hoàn thành đưa vào sử dụng. Do đó, kỳ tính giá thành tại công ty sẽ không trùng với kỳ báo cáo kế toán mà tùy thuộc vào chu kỳ sản xuất sản phẩm xây lắp.
3.2. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong công ty cổ phần xây dựng công nghiệp DESCON (thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên)
3.3.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
a) Tài khoản sử dụng: Để hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng cho các công trình kế toán tại công ty sử dụng tài khoản 621-Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
b) Cách hạch toán:
c) Căn cứ hạch toán:
- Phiếu xuất kho nguyên vật liệu.
- Hóa đơn mua nguyên vật liệu
- Phiếu chi.
- Bảng tổng hợp chi phí thanh toán tạm ứng.
Những chứng từ trên đều được tập hợp riêng cho từng công trình, hạng mục công trình.
d) Trình tự luân chuyển chứng từ và ghi chép:
e) Ví dụ 1 số nghiệp vụ kinh tế phát sinh:
* Nội dung nghiệp vụ:
* Cách trình bày trên các chứng từ ghi sổ, Sổ Cái, Sổ chi tiết chi phí liên quan:
3.3.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
a) Tài khoản sử dụng: Kế toán công ty tiến hành hạch toán chi phí nhân công trực tiếp vào tài khoản 622-Chi phí nhân công trực tiếp.
b) Cách hạch toán:
c) Căn cứ hạch toán:
- Bảng chấm công.
- Bảng tổng hợp chi phí thanh toán tạm ứng.
d) Trình tự luân chuyển chứng từ và ghi chép:
e) Ví dụ 1 số nghiệp vụ kinh tế phát sinh:
* Nội dung nghiệp vụ và định khoản:
* Cách trình bày trên các chứng từ ghi sổ, Sổ Cái, Sổ chi tiết chi phí:
3.3.3. Kế toán chi phí sử dụng máy thi công
a) Tài khoản sử dụng: Tài khoản dùng để tập hợp chi phí sử dụng máy thi công là tài khoản 6277. Như vậy, công ty không sử dụng tài khoản 623 để tập hợp chi phí sử dụng máy thi công mà dùng tài khoản chi tiết 6277-Chi phí dịch vụ mua ngoài (theo dõi theo từng công trình, hạng mục công trình).
b) Cách hạch toán:
c) Căn cứ hạch toán:
- Bảng đề nghị thanh toán tiền thuê thiết bị thi công.
- Hóa đơn GTGT.
d) Trình tự luân chuyển chứng từ và ghi chép:
e) Ví dụ 1 số nghiệp vụ kinh tế phát sinh:
* Nội dung nghiệp vụ và định khoản:
* Cách trình bày trên các chứng từ ghi sổ, Sổ Cái, Sổ chi tiết chi phí:
3.3.4. Kế toán chi phí sản xuất chung
a) Tài khoản sử dụng: Để tập hợp các khoản chi phí sản xuất chung không phải là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 627-Chi phí sản xuất chung.
b) Cách hạch toán:
c) Căn cứ hạch toán:
- Phiếu chi.
- Hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ.
- Bảng tổng hợp chi phí thanh toán tạm ứng.
- Bảng phân bổ chi phí khấu hao.
d) Trình tự luân chuyển chứng từ và ghi chép:
e) Ví dụ 1 số nghiệp vụ kinh tế phát sinh:
* Nội dung nghiệp vụ và định khoản:
* Cách trình bày trên các chứng từ ghi sổ, Sổ Cái, Sổ chi tiết chi phí:
3.3.6. Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất
Khi bắt đầu khởi công mỗi công trình, kế toán tiến hành mở các Sổ chi tiết theo dõi chi phí theo từng công trình hay hạng mục công trình bao gồm: Sổ chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, Sổ chi tiết chi phí nhân công trực tiếp, Sổ chi tiết chi phí sản xuất chung.
Trong quá trình thi công, mọi chi phí, chứng từ phát sinh thuộc các khoản mục chi phí nói trên đều được tập hợp theo từng công trình hay hạng mục công trình ngay từ đầu. Do đó, khi tập hợp chi phí cho mỗi công trình hay hạng mục công trình không cần phải tiến hành phân bổ.
Để tổng hợp chi phí, kế toán kết chuyển toàn bộ số phát sinh của các tài khoản 621, 622, 627 (chi tiết từng công trình) vào bên nợ tài khoản 154 (chi tiết từng công trình).
3.3.5. Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ
Do công ty quy định đối tượng hạch toán chi phí là từng công trình, hạng mục công trình và phương pháp tính giá thành sản phẩm là phương pháp trực tiếp nên chi phí sản xuất dở dang là toàn bộ chi phí phát sinh trong những chứng từ tập hợp được từ khi khởi công cho đến thời điểm xác định chi phí dở dang.
3.3.7. Kế toán tính giá thành sản phẩm xây lắp
Phương pháp tính giá thành được áp dụng tại công ty là phương pháp trực tiếp. Theo đó, khi công trình hoàn thành bàn giao thì toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình thi công chính là giá thành công trình.
Nhìn chung, công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty được tổ chức một cách khoa học và đã đi vào nế nếp. Điều này đã góp một phần không nhỏ trong công tác xây dựng hệ thống giá thành định mức, giá thành kế hoạch hợp lý nhằm hướng tới tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm mà chất lượng công trình không thay đổi.
B) NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ
* Về bộ máy quản lý trong toàn công ty:
a) Ưu điểm:
Công ty đã xây dựng được một bộ máy quản lý gọn nhẹ, hợp lý và khoa học. Các bộ phận quản lý hỗ trợ có hiệu quả cho Ban Giám đốc trong công tác tổ chức và giám sát thi công. Về khía cạnh này có thể nói đến sự đóng góp đáng kể của Phòng quản lý chất lượng và an toàn lao động với hệ thống quản lý chất lượng các công trình theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000. Phòng quản lý chất lượng và an toàn lao động có nhiệm vụ theo dõi chặt chẽ, chi tiết tình hình, tiến độ thi công xây lắp ở từng công trình và báo cáo kịp thời cho Ban Giám đốc.
Bộ máy quản lý tốt đảm bảo hướng tới mục tiêu của công ty là tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm nhưng chất lượng công trình vẫn được đảm bảo. Vì vậy, tên tuổi và uy tín của công ty đang ngày càng được củng cố trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.
Ngoài ra, công ty còn tổ chức xây dựng hệ thống mạng nội bộ góp phần hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý và kiểm soát trong công ty.
b) Nhược điểm:
Tuy nhiên, em nhận thấy vẫn còn một vài điều bất hợp lý trong chính sách quản lý của công ty.
Thứ nhất, lương nhân viên tại các xí nghiệp trực thuộc được chi trả bằng quỹ lương của công ty sẽ trở thành gánh nặng cho quỹ lương của công ty. Bên cạnh đó, chính sách này có thể gây nên tình trạng các xí nghiệp sử dụng nhân lực một cách bừa bãi, không tích cực tiết kiệm chi phí, gây thêm gánh nặng cho quỹ lương của công ty.
Thứ hai, công ty đưa ra chính sách mỗi xí nghiệp phải nộp một tỉ lệ lợi nhuận mỗi năm cho công ty nếu có lợi nhuận, nếu không công ty sẽ hỗ trợ bù lỗ cho xí nghiệp. Chính sách này có thể triệt tiêu động lực phấn đấu tiết kiệm chi phí, hạ giá thành cho các công trình do xí nghiệp thực hiện. Hơn nữa, chính sách này cũng có thể dẫn đến tình trạng các xí nghiệp tìm cách thổi phồng các chi phí không thực sự phát sinh khiến cho lợi nhuận từ các công trình không có hoặc rất ít. Như vậy, phần lợi nhuận xí nghiệp phải nộp cho công ty sẽ thấp hơn hay không phải nộp mà còn nhận được khoản hỗ trợ bù lỗ của công ty.
c) Kiến nghị:
Trước những tồn tại về vấn đề lương của nhân viên các xí nghiêp, công ty có thể đưa ra chính sách xây dựng quỹ lương riêng của mỗi xí nghiệp. Như vậy, quỹ lương của công ty sẽ được giảm bớt gánh nặng và cũng là biện pháp thúc đẩy xí nghiệp phấn đấu giảm chi phí tiền lương.
Bên cạnh đó, công ty có thể thay chính sách hỗ trợ bù lỗ bằng chính sách thưởng cho các xí nghiệp có mức đóng góp lợi nhuận cho công ty cao nhất. Như vậy, công ty có thể khuyến khích các xí nghiệp phấn đấu thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với công ty.
* Về tổ chức bộ máy kế toán:
1. Tổ chức bộ máy kế toán:
Công ty đã thành công trong việc tổ chức bộ máy kế toán một cấp, thống nhất và hoạt động có hiệu quả.
Nhìn chung, bộ máy kế toán được tổ chức gọn nhẹ, hợp lý và phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý của công ty.
Phòng kế toán bao gồm 6 nhân viên: 1 Kế toán trưởng, 1 Kế toán thanh toán, 1 Kế toán công trình, 1 Kế toán hàng tồn kho-lương-TSCĐ, 1 Kế toán tổng hợp, 1 Thủ quỹ. Đây có thể nói là một cơ cấu tiêu chuẩn đối với một bộ máy kế toán, trong đó, mỗi nhân viên được tổ chức phân công, phân nhiệm rõ ràng, hợp lý, phù hợp với năng lực và trình độ chuyên môn của từng người. Chính vì thế, công tác hạch toán tại công ty được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác, tránh được tình trạng chồng chéo trong dễ dẫn đến nhầm lẫn và sai sót. Hơn nữa, hầu hết các nhân viên của phòng kế toán đều có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao và kinh nghiệm thực tế lâu năm cùng với tinh thần tận tâm, nhịêt tình trong công việc. Ngoài ra, các nhân viên trong phòng kế toán đã xây dựng được một mối quan hệ tốt đẹp với nhau và với các phòng ban khác. Điều này tạo được rất nhiều thuận lợi trong công tác kế toán của công ty.
Mặc dù mỗi nhân viên kế toán phụ trách và tự chịu trách nhiệm về một phần hành nhất định nào đó nhưng tất cả đều chịu sự chỉ đạo toàn diện, thống nhất và tập trung của Kế toán trưởng. Kế toán trưởng có quyền hạn và nhiệm vụ kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện nhiệm vụ của các nhân viên kế toán khác đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm chung trước những sai sót xảy ra trong hạch toán kế toán. Như vậy, công tác kế toán của công ty sẽ giảm thiểu được tối đa những sai sót do nhầm lẫn hoặc gian lận gây nên, tránh tình trang đùn đẩy trách nhiệm giữa các bộ phận.
2. Tình hình thực hiện nhiệm vụ của bộ máy kế toán:
Do được tổ chức một cách bài bản, khoa học nên nhìn chung, bộ máy kế toán của công ty luôn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao đó là ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và cho Ban Giám đốc.
Chính vì thế, bộ máy kế toán đã góp một phần không nhỏ trong công tác quản lý chi phí sản xuất, tiết kiệm hạ giá thành của công ty và được coi như là cánh tay phải đắc lực của Ban Giám đốc.
3. Hình thức tổ chức công tác kế toán:
Công ty áp dụng hình thức tổ chức công tác kế toán vừa tập trung vừa phân tán. Đây là hình thức kết hợp giữa hình thức tổ chức công tác kế toán tập trung và hình thức tổ chức công tác kế toán phân tán. Do đó, hình thức tổ chức công tác kế toán vừa tập trung vừa phân tán mang đặc điểm của cảa hai hình thức trên và khắc phục được những nhược điểm của hai hình thức đó.
Trong hình thức tổ chức công tác kế toán vừa tập trung vừa phân tán, công việc kế toán được phân công cho các đơn vị trực thuộc thực hiện một phần hay toàn bộ tùy theo trình độ và điều kiện cụ thể của các đơn vị trực thuộc đó. Sau đó, toàn bộ chứng từ lại được chuyển về phòng kế toán công ty để tiến hành hạch toán, ghi sổ đồng thời tổng hợp và kiểm tra báo cáo của các đơn vị trực thuộc.
a) Ưu điểm:
- Hình thức tổ chức công tác kế toán vừa tập trung vừa phân tán đảm bảo sự chỉ đạo tập trung, thống nhất đồng thời cũng tạo điều kiện cho các đơn vị trực thuộc nắm được tình hình sản xuất kinh doanh một các chính xác, kịp thời.
- Cũng từ ưu điểm trên, hình thức này cũng góp phần giảm thiểu được đáng kể những sai sót trong công tác hạch toán kế toán của công ty.
b) Nhược điểm:
- Tuy nhiên, hình thức tổ chức công tác kế toán vừa tập trung vừa phân tán cũng vẫn có điểm yếu đó là công tác hạch toán được thực hiện hai lần: ở phòng kế toán công ty và ở đơn vị trực thuộc.
- Như vậy, số lượng nhân viên kế toán sẽ đông hơn làm tăng chi phí tiền lương, gây gánh nặng cho quỹ lương của công ty.
Nói chung, hình thức nào cũng có những ưu điểm và nhược điểm của nó. Do vậy, kế toán công ty đã phải cân nhắc giữa lợi và thiệt để lựa chọn một hình thức thích hợp nhất cho việc tổ chức công tác kế toán của công ty.
* Về tổ chức công tác kế toán:
1. Tổ chức vận dụng chế độ chứng từ kế toán:
Nhìn chung, hệ thống chứng từ tại công ty được tổ chức đầy đủ và hợp lý căn cứ trên các quy định của chế độ chứng từ kế toán do Bộ tài chính ban hành và đặc điểm kinh doanh của công ty. Đồng thời, kế toán công ty cũng đã xây dựng được trình tự luân chuyển các loại chứng từ một cách hợp lý, đảm bảo nguyên tắc nhanh chóng, kịp thời và không ảnh hưởng đến các bộ phận khác. Nhờ thế, công tác kế toán nói chung được thực hiện minh bạch, rõ ràng, có căn cứ vững chắc và công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp nói riêng tại công ty được tiến hành nhanh chóng, chính xác, kịp thời, đáp ứng đầy đủ thông tin cần thiết cho Ban Giám đốc.
2. Hình thức kế toán áp dụng tại công ty:
Hình thức kế toán được áp dụng tại công ty là hình thức chứng từ ghi sổ.
a) Ưu điểm:
- Hình thức chứng từ ghi sổ giúp cho kế toán doanh nghiệp quản lý chứng từ chặt chẽ, trình tự ghi chép mạch lạc do hàng ngày kế toán lập các chứng từ ghi sổ căn cứ trên các chứng từ gốc phát sinh hoặc Bảng tổng hợp chứng từ gốc (nếu trong ngày có nhiều chứng từ gốc có cùng một nội dung kinh tế). Các chứng từ ghi sổ sau đó được tổng hợp trên Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, căn cứ trên các chứng từ ghi sổ kế toán tiến hành ghi Sổ cái tài khoản. Do đó, nếu có sai sót xảy ra thì kế toán cũng dễ dàng phát hiện để sửa chữa kịp thời. Ngoài ra, chứng từ gốc và các chứng từ ghi sổ được quản lý rất chặt chẽ nên rất khó xảy ra mất mát, thất lạc.
- Ngoài ra, hình thức chứng từ ghi sổ còn là một hình thức thích hợp đối với các doanh nghiệp sản xuất.
b) Nhược điểm:
- Chứng từ ghi sổ được lập hàng ngày căn cứ trên chứng từ gốc phát sinh tạo nên gánh nặng lớn cho kế toán do công việc quá nhiều, số lượng chứng từ ghi sổ quá lớn, khó kiểm soát.
c) Kiến nghị:
- Theo em, công ty có thể lập chứng từ ghi sổ theo tháng thay vì hàng ngày. Như vậy, công việc của kế toán được giảm tải, hạn chế được sai sót, đồng thời, số lượng chứng từ ghi sổ cũng ít hơn nên dễ kiểm tra, kiểm soát hơn.
3) Các chính sách kế toán áp dụng tại công ty:
Thứ nhất, công ty lựa chọn đối tượng tính giá thành là từng công trình hay hạng mục công trình. Lựa chọn như vậy, công ty có thể theo dõi chi phí cho từng công trình hay hạng mục công trình hoàn thành bàn giao, có thể xác định được lợi nhuận theo từng công trình. Tuy nhiên, cùng với việc lựa chọn đối tượng tính giá thành là từng công trình hay hạng mục công trình, kế toán chỉ có thể tính giá thành sản phẩm khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành bàn giao. Do đó, kế toán không thể cung cấp những thông tin cần thiết về giá thành để đáp ứng nhu cầu quản lý kịp thời của Ban Giám đốc. Vì thế, theo em, nếu doanh nghiệp lựa chọn đối tượng tính giá thành là từng giai đoạn thi công thì vừa thúc đẩy được việc quản lý chi phí vừa thúc đẩy quản lý tiến độ thi công sát sao hơn.
Thứ hai, phương pháp tính giá thành được áp dụng tại công ty là phương pháp trực tiếp. Sử dụng phương pháp này sẽ giúp công tác tính giá thành đơn giản hơn, công việc tính toán của kế toán sẽ nhẹ nhàng hơn, tránh được những sai sót không đáng có do nhầm lẫn trong tính toán. Tuy nhiên, cùng với phương pháp này, việc đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ là công việc mang tính chất thủ tục chứ không được chính xác.
Thứ ba, phương pháp, nguyên tắc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành tại công ty đều căn cứ theo những quy định của Bộ tài chính ban hành; hệ thống chứng từ ban đầu được tổ chức hợp pháp, hợp lý và đầy đủ. Do đó, công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành tại công ty luôn đảm bảo chính xác và kịp thời. Điều này rất có lợi vì công ty luôn có đầy đủ thông tin về chi phí và giá thành khiến cho việc quản lý tiết kiệm chi phí, hạ giá thành dễ thực hiện hơn.
Nhìn chung công ty lựa chọn những phương pháp kế toán đơn giản và dễ thực hiện để đơn giản hóa công tác kế toán, giảm thiểu rủi ro do nhầm lẫn, sai sót trong tính toán. Mỗi chính sách được lựa chọn đều phải có những ưu điểm nhất định nhưng cũng không tranh khỏi những nhược điểm mà công ty cần có những giải pháp thích hợp để hạn chế tối đa những nhược điểm đó.
6. Về hệ thống tài khoản sử dụng và phương pháp hạch toán một số nghiệp vụ liên quan đến tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành:
a) Công ty tổ chức đội máy thi công riêng biệt có tổ chức hạch toán riêng và thực hiện phương thức bán sản phẩm, lao vụ giữa các bộ phận trong nội bộ nhưng khi hạch toán chi phí sử dụng máy thi công, công ty không sử dụng tài khoản 623-Chi phí sử dụng máy thi công mà hạch toán vào tài khoản 6277-Chi phí dịch vụ mua ngoài. Hạch toán như vậy tuy không phải sai nhưng khiến cho việc quản lý chi phí sử dụng máy thi công trở nên khó khăn. Doanh nghiệp sẽ khó theo dõi được tỷ lệ chi phí sử dụng máy thi công chiếm trong tổng giá thành. Trong khi đó, khoản mục chi phí dịch vụ mua ngoài, một khoản mục bao gồm những chi phí nhỏ, lặt vặt, không rõ ràng, lại quá lớn. Như vậy, việc hạch toán không phản ánh được cơ cấu hợp lý của chi phí, sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm của danh nghiệp.
Ở đây, công ty nên sử dụng tài khoản 623-Chi phí sử dụng máy thi công mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình.
+ Đơn vị máy thi công sẽ hạch toán chi phí của đội máy thi công vào tài khoản 621,622,627-Đội máy thi công và sử dụng tài khoản 154-Đội máy thi công để tập hợp chi phí và tính giá thành cung cấp dịch vụ máy thi công cung cấp cho nội bộ và bên ngoài. Khi cung cấp dịch vụ máy thi công cho nội bộ, doanh thu của đơn vị máy thi công sẽ được hạch toán vào tài khoản 512 chi tiết cho từng đơn vị.
+ Đơn vị sử dụng dịch vụ cung cấp thi công sẽ hạch toán chi phí sử dụng máy thi công vào tài khoản 623 chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình.
b) Khi nhận bàn giao phần công việc đã giao lại cho thầu phụ, kế toán công ty hạch toán giá trị phần công việc đó vào tài khoản 6277-Chi phí dịch vụ mua ngoài. Trong khi theo quy định thì giá trị của phần công việc đã giao thầu lại phải được hạch toán trực tiếp vào tài khoản 632-Giá vốn của công trình hoàn thành bàn giao.
Nhìn chung, ở đây vấn đề của doanh nghiệp là quá lạm dụng tài khoản 6277-Chi phí dịch vụ mua ngoài nhằm đơn giản trong công tác phân loại chi phí, giảm bớt công việc của kế toán. Nhưng sự lạm dụng đó có thể khiến cho cơ cấu giá thành sản phẩm không hợp lý, không rõ ràng. Từ đó gây khó khăn cho công tác phân tích chi phí, giá thành nhằm xây dựng kế hoạch tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm.
 
Sửa lần cuối:

Xem nhiều