hic, bạn giải thích thế có vẻ chưa rõ lắm. Thật ra thuật ngữ vốn cố định và vốn lưu động xuất hiện và biến mất lâu lắm rồi. trong quá trình đi làm lâu lâu mình cũng nghe các k toán lớn tuổi hay nhắc đến. Nó cũng giống như muốn mua tài sản phải lấy từ nguồn khấu hao

nói chung mấy cái quan điểm tài chánh thời nhà nước ta còn bao cấp. Nhưng hiện tại các thuật ngữ này đã ko còn tồn tại. ngay cả việc ts lưu động và ts cố định cũng đã hầu như xuất hiện rất hạn chế. Bây giờ thế giới họ ko phân biệt cái nào lưu cái nào cố. Họ chỉ phân ra TS ngắn hạn và TS dài hạn theo mức độ tham gia vào chu kỳ kinh doanh của những TS đó mà thôi. Còn vốn kinh doanh ko phải là 411. Vốn kinh doanh bao gồm vốn chủ sở hữu cộng với các khoản nợ và vay nếu có. Cụm từ vốn kinh doanh cũng mơ hồ lắm. Đôi khi mình nghỉ tất cả vốn của DN đều là vốn kinh doanh, ngay cả 1 số khoản vốn đối ứng nhằm đảm bảo cho 1 hợp đồng nào đó cũng là vốn kinh doanh, VD như LC tuy ko đc sử dụng nhưng nó xuất hiện để phục vụ cho 1 nghiệp vụ mua bán và nó sẽ đc thanh toán khi nghiệp vụ đó hoàn tất. Vậy cụm từ vốn kinh doanh có vẻ cũng mơ hồ, trên thế giới thì họ dùng cụm từ vốn hoạt động (working capital = current asset - current liability) tức là nó là khả năng thanh toán còn lại của DN trong tức thời, còn các khoản dài hạn thì họ xem như khả năng thanh khoản ko cao và ko đáp ứng đc nhu cầu kinh doanh vì kinh doanh là cong việc diễn ra hàng ngày. Nói chug lại thì bạn tạm hiểu vốn hoạt động là nguồn vốn có khả năng thanh khoản cao để giúp DN xử lý 1 số NV trong tức thời. Xin mọi người cho ý kiến thêm. Thân