1. Mình chỉ biết được sự khác biệt về kế toán vốn bằng tiền trong lĩnh vực tiền gửi Ngân hàng:
* Ở Việt Nam, tài khoản 112 (tiền gửi Ngân hàng) được ghị Nợ (tăng) và Có (giảm) căn cứ vào các giấy bào Có, Nợ của Ngân hàng hoặc các sổ phụ, bảng sao kê của Ngân hàng làm chứng từ gốc. Tuy nhiên cái này tạo sự khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc ghi nhật ký theo đúng thứ tự, trật tự thời gian phát sinh của nghiệp vụ. Hơn nữa, doanh nghiệp ssẽ hoàn toàn phụ thuộc vào Ngân hàng. Như vậy, nếu Ngân hàng mắc lỗi thì doanh nghiệp không có chứng từ để hạch toán. Khó khăn nữa là các doanh nghiệp có quan hệ với các Ngân hàng, chi nhánh Ngân hàng ở nước ngoài mà các Ngân hàng này thường xuyên không có sổ phụ, giấy báo Có, Nợ mà thay vào đó là bảng kê tài khoản trong tháng.
* Nước ngoài: Việc ghi sổ tăng, giảm tài khoản tiền gửi ngân hàng thực hiện ngay sau khi lập, phê duyệt các phiếu thu, phiếu chi, có liên quan đến tiền gửi ngân hàng. Việc thu tiền nói chung (tiền mặt và tiền gửi Ngân hàng) đều phải lập các phiếu thu, chi. Các phiếu thu, chi được đánh số liên tục bao gồm cả chi tiền mặt cũng như tiền gửi Ngân hàng...
2. Tiền mặt tại công ty thì mình chỉ biết sơ qua thôi:
* Ở Việt Nam chắc bạn biết rồi, nền kinh tế Việt Nam vẫn nặng tiền mặt.
* ở nước ngoài, việc dùng tiền mặt là rất ít, do đó, họ gọi tiền mặt là kế toán tiền lặt vặt. Họ mở một tiểu khoản tiền lặt vặt để theo dõi riêng loại tiền này và hạch toán nó như một quỹ và từ đó có thê rmở riêng và chi tiết theo từng đối tượng chi tiêu nữa.
3. Các khoản kế toán vốn bằng tiền khác thì hơi dài mình không tiện nêu ra ở đây!
Mong các bạn khác tiếp tục thảo luận!
Chân thành cảm ơn các bạn đã đọc!