Ðề: Hạch toán thuế Môi Trường
Theo dự thảo thông tư hướng dẫn sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán thì thuế môi trường được hạch toán như sau:
1. Đối với hàng sản xuất trong nước khi bán ra:
Nợ TK Doanh thu / Có TK thuế môi trường phải nộp.
2.Đối với hàng nhập khẩu:
Nợ TK Hàng tồn kho (152, 156) / Có TK thuế môi trường phải nộp.
Một số bạn cho rằng tại sao nói trong doanh thu đã có thuế môi trường và tách thuế môi trường như thế nào?
Theo tôi thì câu trả lời như sau: Đối với hàng sản xuất trong nước khi bán ra chịu thuế môi trường thì người bán thu của người mua (doanh thu) để trang trải chi phí sản xuất, thuế môi trường và đảm bảo phần lợi nhuận. Như vậy có thể nói rằng trong doanh thu bán hàng trong nước chịu thuế môi trường (túi nilon, than,...) đã bao gồm cả thuế môi trường. Do vậy khi tính thuế môi trường hạch toán giảm doanh thu như ở trên.
Tuy nhiên theo quan điểm của tôi thì hướng dẫn như trong dự thảo thông tư mặc dù dễ thực hiện nhưng chưa nhất quán và chưa tuân thủ chuẩn mực chung.
Luật thuế môi trường quy định thuế môi trường được tính trên cơ sở số lượng hàng tiêu thụ hoặc nhập khẩu. Điều đó có nghĩa là thời điểm tính thuế môi trường là thời điểm tiêu thụ hoặc nhập khẩu. Cách hạch toán như hướng dẫn trong dự thảo thông tư là phù hợp với quy định về thời điểm tính thuế và dễ áp dụng.
Tuy nhiên cách hạch toán này lại không nhất quán giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước: Hàng nhập khẩu thì tính vào giá gốc của hàng tồn kho, nhưng hàng sản xuất trong nước thì lại trừ vào doanh thu.
Theo VAS 02, VAS 01 thì giá gốc của hàng tồn kho (tài sản nói chung) là toàn bộ các chi phí để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại. Do vậy đối với hàng sản xuất ra chịu thuế bảo vệ môi trường thì thuế bảo vệ môi trường phải nộp là chi phí cần thiết để có được các hàng này (vì nếu không nộp thì không thể tiêu thụ được trên thị trường - tất nhiên chỉ tính khi tiêu thụ). Do đó thuế môi trường cần được tính vào giá gốc của hàng tồn kho thay vì tính trừ vào doanh thu.
Bút toán phản ánh thuế môi trường đối với hàng sản xuất là:
Nợ TK Chi phí sản xuất (627, 154) / Có TK Phải trả khác (Hoặc dự phòng phải trả, hoặc chi phí phải trả).
Khi tiêu thụ thì tính thuế môi trường phải nộp theo số hàng đã tiêu thụ, ghi:
Nợ TK Phải trả khác (Hoặc dự phòng phải trả, hoặc chi phí phải trả) / Có TK thuế môi trường phải nộp.
Cách hạch toán mà tôi đề xuất ở trên sẽ thoả mãn các quy định trong chuẩn mực kế toán. Tuy nhiên hạch toán theo dự thảo thông tư lại đơn giản cho việc hạch toán. Có lẽ các nhà soạn thảo đặt tiêu chí là đơn giản, dễ thực hiện trên tiêu chí tuân thủ nghiêm ngặt Khuôn mẫu lý thuyết kế toán?