Thấy bài này trên trang web Cục thuế tỉnh
Bên cạnh những doanh nghiệp kinh doanh và chấp hành đúng chính sách pháp luật của nhà nước, có thu nhập chính đáng và đóng góp đáng kể cho các nguồn thu của ngân sách thì có một số doanh nghiệp có những hành vi đối phó, luồn lách các kẽ hở trong những quy định của nhà nước để trục lợi. Bài viết này muốn đề cập đến hành vi cố tình tạo sự sai lệch giữa thực tế tồn quỹ tiền mặt và số liệu tồn quỹ tiền mặt trên sổ sách nhằm chủ động hướng tới nhiều mục đích vụ lợi trong kinh doanh.
Ta biết rằng định mức tồn quỹ tiền mặt suy cho cùng là lượng tiền mặt được phép để tồn quỹ hàng ngày tại doanh nghiệp. Hiện nay, chưa có quy định nào khống chế định mức tồn quỹ tiền mặt tại doanh nghiệp nhưng thực tế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất thường chú trọng không để lượng tiền mặt tồn quỹ quá nhiều so với mức cần thiết. Vì như vậy vừa không an toàn trong bảo quản, vừa hạn chế đến kết quả sản xuất, kinh doanh. Thực chất đây là một trong những tiêu chí mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng đều quan tâm và cố gắng hạ thấp định mức tồn quỹ tiền mặt đến mức có thể để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất. Nếu thực tế doanh nghiệp có lượng tiền tạm thời nhàn rỗi thì cũng gửi các tổ chức tín dụng để có thu nhập khác về lãi tiền gửi là lẽ đương nhiên. Vấn đề đặt ra là số liệu trên sổ sách của doanh nghiệp có khớp đúng với thực tế này hay không? Số liệu trên sổ sách của doanh nghiệp có thể để tồn quỹ bao nhiêu cũng được mà không phải chịu sự kiểm tra, giám sát từ phía các cơ quan chức năng có liên quan. Lợi dụng điều này, các doanh nghiệp đã có nhiều sự phản ánh trên chứng từ sổ sách sai thực tế nhằm vào các mục đích vụ lợi cụ thể như sau:
+ Một số doanh nghiệp đã tăng khống lượng tiền mặt tồn quỹ để tăng vốn tự có nhằm đối phó với những quy định có liên quan đến vốn tự có, gây khó khăn cho công tác quản lý, thậm chí có thể làm phương hại đến lợi ích của các bên có liên quan, như khi cần vay vốn để thực hiện dự án đầu tư nhưng thực lực vốn tự có của doanh nghiệp không đạt mức tối thiểu bằng 15% tổng mức vốn đầu tư của dự án.
+ Một số doanh nghiệp đã tăng khống vốn tự có thông qua việc tăng khống số liệu tiền mặt tồn quỹ trong báo cáo gửi cho Tổ chức Tín dụng cho thỏa mãn một tỷ lệ theo quy định để được Tổ chức Tín dụng xem xét cho vay.
Thực tế cho thấy, có một số doanh nghiệp lúc bình thường chỉ duy trì lượng tiền mặt tồn quỹ vài chục triệu đồng là đảm bảo nhu cầu hoạt động nhưng khi cần vay lượng vốn lớn để thực hiện dự án họ đã báo cáo tăng khống lượng tiền mặt tồn quỹ gấp nhiều lần thậm chí là vài tỷ đồng, làm cho tỷ lệ vốn tự có của doanh nghiệp đảm bảo mức quy định so với tổng giá trị dự án để được Tổ chức Tín dụng nhận cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Cuối cùng, vì thiếu vốn tự có tham gia vào dự án nên dự án thực hiện không đến nơi đến chốn, hiệu quả kém, Tổ chức Tín dụng gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ.
Thực trạng này đã và đang có xu hướng ngày càng gia tăng, gây khó khăn cho các Tổ chức Tín dụng trong việc xác định chính xác mức vốn tự có của doanh nghiệp tham gia vào dự án để quyết định đầu tư và là nguy cơ có thể làm gia tăng rủi ro cho Tổ chức Tín dụng khi tham gia đầu tư vốn. Nếu sự việc trên được phát hiện thì cùng lắm Tổ chức Tín dụng chỉ từ chối việc cho vay chứ không thể phối hợp với các cơ quan chức năng để tiến hành xử lý nên tác dụng ngăn chặn bị hạn chế.
+ Cũng do chưa quản lý mức tồn quỹ tiền mặt nên nhiều cơ sở sản xuất về thực lực vốn tự có chưa hội đủ mức quy định để được thành lập doanh nghiệp nhưng lại muốn lên doanh nghiệp để được hưởng chính sách ưu đãi trong đầu tư cũng tìm cách khai tăng lượng tiền mặt tồn quỹ, tăng vốn tự có nhằm đạt mức quy định để được các cơ quan chức năng xem xét, cho thành lập doanh nghiệp. Sau khi được thành lập doanh nghiệp và được hưởng chính sách ưu đãi trong đầu tư đối với doanh nghiệp thành lập mới như: miễn, giảm thuế TNDN, miễn giảm tiền thuế đất… thì doanh nghiệp này sẽ làm đơn xin giải thể doanh nghiệp rồi sau đó lại xin thành lập doanh nghiệp mới để tiếp tục được hưởng ưu đãi trong đầu tư…
+ Bên cạnh đó, qua công tác kiểm tra gặp trường hợp doanh nghiệp luôn có số tồn quỹ thường xuyên quá lớn và theo nhận định của cơ quan thuế thì số tiền tồn quỹ tiền mặt này không cần thiết và không có sử dụng để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên không biến động trong thời gian dài. Bên cạnh đó lại phát sinh chi phí trả lãi vay rất lớn mà doanh nghiệp đã lập hợp đồng vay, chứng từ vay…theo đúng quy định. Dù nhận định rằng doanh nghiệp phát sinh chi phí lãi vay quá lớn trong khi lượng tiền mặt tồn quỹ cũng quá lớn là tiềm ẩn nguy cơ về hành vi trốn thuế rất cao nhưng cơ quan thuế không có đủ cơ sở pháp lý để soát xét đến vấn đề này, dẫn đến không thể thực hiện loại chi, truy thu thuế hoặc xử lý vi phạm nếu có.
Để ngăn chặn tình trạng trên, thiết nghĩ Nhà nước cần sớm ban hành văn bản pháp luật về quản lý tiền mặt, trong đó cần chú trọng việc định mức tồn quỹ tiền mặt phù hợp cho từng loại hình doanh nghiệp, từng cơ sở sản xuất, tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan chức năng có liên quan trong việc giám sát, kiểm tra việc thực hiện. Có như vậy, mới đẩy mạnh hoạt động thanh toán qua ngân hàng đồng thời góp phần đưa công tác quản lý tiền mặt ngày càng đi vào nền nếp, hạn chế đến mức thấp nhất việc lợi dụng tăng khống lượng tiền mặt tồn quỹ để đối phó với những quy định hiện hành.
Bên cạnh những doanh nghiệp kinh doanh và chấp hành đúng chính sách pháp luật của nhà nước, có thu nhập chính đáng và đóng góp đáng kể cho các nguồn thu của ngân sách thì có một số doanh nghiệp có những hành vi đối phó, luồn lách các kẽ hở trong những quy định của nhà nước để trục lợi. Bài viết này muốn đề cập đến hành vi cố tình tạo sự sai lệch giữa thực tế tồn quỹ tiền mặt và số liệu tồn quỹ tiền mặt trên sổ sách nhằm chủ động hướng tới nhiều mục đích vụ lợi trong kinh doanh.
Ta biết rằng định mức tồn quỹ tiền mặt suy cho cùng là lượng tiền mặt được phép để tồn quỹ hàng ngày tại doanh nghiệp. Hiện nay, chưa có quy định nào khống chế định mức tồn quỹ tiền mặt tại doanh nghiệp nhưng thực tế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất thường chú trọng không để lượng tiền mặt tồn quỹ quá nhiều so với mức cần thiết. Vì như vậy vừa không an toàn trong bảo quản, vừa hạn chế đến kết quả sản xuất, kinh doanh. Thực chất đây là một trong những tiêu chí mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng đều quan tâm và cố gắng hạ thấp định mức tồn quỹ tiền mặt đến mức có thể để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất. Nếu thực tế doanh nghiệp có lượng tiền tạm thời nhàn rỗi thì cũng gửi các tổ chức tín dụng để có thu nhập khác về lãi tiền gửi là lẽ đương nhiên. Vấn đề đặt ra là số liệu trên sổ sách của doanh nghiệp có khớp đúng với thực tế này hay không? Số liệu trên sổ sách của doanh nghiệp có thể để tồn quỹ bao nhiêu cũng được mà không phải chịu sự kiểm tra, giám sát từ phía các cơ quan chức năng có liên quan. Lợi dụng điều này, các doanh nghiệp đã có nhiều sự phản ánh trên chứng từ sổ sách sai thực tế nhằm vào các mục đích vụ lợi cụ thể như sau:
+ Một số doanh nghiệp đã tăng khống lượng tiền mặt tồn quỹ để tăng vốn tự có nhằm đối phó với những quy định có liên quan đến vốn tự có, gây khó khăn cho công tác quản lý, thậm chí có thể làm phương hại đến lợi ích của các bên có liên quan, như khi cần vay vốn để thực hiện dự án đầu tư nhưng thực lực vốn tự có của doanh nghiệp không đạt mức tối thiểu bằng 15% tổng mức vốn đầu tư của dự án.
+ Một số doanh nghiệp đã tăng khống vốn tự có thông qua việc tăng khống số liệu tiền mặt tồn quỹ trong báo cáo gửi cho Tổ chức Tín dụng cho thỏa mãn một tỷ lệ theo quy định để được Tổ chức Tín dụng xem xét cho vay.
Thực tế cho thấy, có một số doanh nghiệp lúc bình thường chỉ duy trì lượng tiền mặt tồn quỹ vài chục triệu đồng là đảm bảo nhu cầu hoạt động nhưng khi cần vay lượng vốn lớn để thực hiện dự án họ đã báo cáo tăng khống lượng tiền mặt tồn quỹ gấp nhiều lần thậm chí là vài tỷ đồng, làm cho tỷ lệ vốn tự có của doanh nghiệp đảm bảo mức quy định so với tổng giá trị dự án để được Tổ chức Tín dụng nhận cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Cuối cùng, vì thiếu vốn tự có tham gia vào dự án nên dự án thực hiện không đến nơi đến chốn, hiệu quả kém, Tổ chức Tín dụng gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ.
Thực trạng này đã và đang có xu hướng ngày càng gia tăng, gây khó khăn cho các Tổ chức Tín dụng trong việc xác định chính xác mức vốn tự có của doanh nghiệp tham gia vào dự án để quyết định đầu tư và là nguy cơ có thể làm gia tăng rủi ro cho Tổ chức Tín dụng khi tham gia đầu tư vốn. Nếu sự việc trên được phát hiện thì cùng lắm Tổ chức Tín dụng chỉ từ chối việc cho vay chứ không thể phối hợp với các cơ quan chức năng để tiến hành xử lý nên tác dụng ngăn chặn bị hạn chế.
+ Cũng do chưa quản lý mức tồn quỹ tiền mặt nên nhiều cơ sở sản xuất về thực lực vốn tự có chưa hội đủ mức quy định để được thành lập doanh nghiệp nhưng lại muốn lên doanh nghiệp để được hưởng chính sách ưu đãi trong đầu tư cũng tìm cách khai tăng lượng tiền mặt tồn quỹ, tăng vốn tự có nhằm đạt mức quy định để được các cơ quan chức năng xem xét, cho thành lập doanh nghiệp. Sau khi được thành lập doanh nghiệp và được hưởng chính sách ưu đãi trong đầu tư đối với doanh nghiệp thành lập mới như: miễn, giảm thuế TNDN, miễn giảm tiền thuế đất… thì doanh nghiệp này sẽ làm đơn xin giải thể doanh nghiệp rồi sau đó lại xin thành lập doanh nghiệp mới để tiếp tục được hưởng ưu đãi trong đầu tư…
+ Bên cạnh đó, qua công tác kiểm tra gặp trường hợp doanh nghiệp luôn có số tồn quỹ thường xuyên quá lớn và theo nhận định của cơ quan thuế thì số tiền tồn quỹ tiền mặt này không cần thiết và không có sử dụng để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên không biến động trong thời gian dài. Bên cạnh đó lại phát sinh chi phí trả lãi vay rất lớn mà doanh nghiệp đã lập hợp đồng vay, chứng từ vay…theo đúng quy định. Dù nhận định rằng doanh nghiệp phát sinh chi phí lãi vay quá lớn trong khi lượng tiền mặt tồn quỹ cũng quá lớn là tiềm ẩn nguy cơ về hành vi trốn thuế rất cao nhưng cơ quan thuế không có đủ cơ sở pháp lý để soát xét đến vấn đề này, dẫn đến không thể thực hiện loại chi, truy thu thuế hoặc xử lý vi phạm nếu có.
Để ngăn chặn tình trạng trên, thiết nghĩ Nhà nước cần sớm ban hành văn bản pháp luật về quản lý tiền mặt, trong đó cần chú trọng việc định mức tồn quỹ tiền mặt phù hợp cho từng loại hình doanh nghiệp, từng cơ sở sản xuất, tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan chức năng có liên quan trong việc giám sát, kiểm tra việc thực hiện. Có như vậy, mới đẩy mạnh hoạt động thanh toán qua ngân hàng đồng thời góp phần đưa công tác quản lý tiền mặt ngày càng đi vào nền nếp, hạn chế đến mức thấp nhất việc lợi dụng tăng khống lượng tiền mặt tồn quỹ để đối phó với những quy định hiện hành.

