Đọc truyện mỗi ngày

  • Thread starter letmyha
  • Ngày gửi
letmyha

letmyha

Hư không
18/5/04
826
6
0
37
The land of the living
#1
Luật im lặng
Mario Puzo

Mở đầu

1967

Luật im lặng (Omertà) Là luật danh dự của người Sicily cấm tố giác những hành động tội tõi của những người liên quan.
World Book Dictionary


Tại làng Castellammare del Golfo trông ra Địa Trung Hải u ám, ông Trùm đang hấp hối. Vincenzo Zeno nổi tiếng trọng danh dự, luôn được mọi người gần xe yêu mến bởi sự phân xử công bằng và sự giúp đỡ dành cho những ai cần được giúp đỡ, và cả việc trừng phạt không khoan nhượng với những ai đáng bị trừng phạt.

Quanh lão đang có ba trong số những thuộc hạ cũ, những người đã giúp lão đạt tới quyền lực và vị trí của mình: Raymonde Aprile đến từ Sicily và New York, Octavious Biauco đến từ Palermo, và Bentino Craxxi đến từ Chicago. Cả ba đều biết ơn lão vì ân huệ cuối cùng này.

Trùm Zeno là kẻ cuối cùng trong số các ông trùm mafia chính thống suốt đời tuân thủ các tập tục cũ. Lão bòn rút thuế đánh vào tất cả các hoạt động kinh doanh, nhưng không dính đến ma túy, đĩ điếm hay các tội lỗi bất kỳ nào khác. Chẳng khi nào một kẻ bần hàn tới nhà lão xin tiền phải ra về tay không. Lão sửa lại những bất công của pháp luật- tòa thượng thẩm ở Sicily có thể đưa ra phán quyết của mình, nhưng nếu bạn đúng, Trùm Zeno sẽ phủ quyết phán quyết đó bằng sức mạnh ý chí của chính lão và bằng cả vũ lực nếu cần.

Không một chàng Sở Khanh nào có thể quất ngựa truy phong sau khi đã tòm tem con gái của một nông dân nghèo, nếu đã được Trùm Zeno thuyết phục tiến tới hôn nhân. Không một nhà băng nào đang tâm xiết nợ một nông dân thất cơ lỡ vận nếu đã được Trùm Zeno nói chuyện phải quấy. Không một chàng trai trẻ nào khao khát học lên đại học lại bị chối bỏ chỉ vì thiếu tiền hay gặp hoàn cảnh khó khăn nào khác. Nếu người ta có quan hệ với cosca (1) của lão thì mọi mơ ước đều trở thành hiện thực. Luật lệ từ Roma không chạm tới được những truyền thống của Sicily. Ở đây Trùm Zeno chính là luật lệ.

Nhưng bây giờ ông Trùm đang sang tuổi tám mươi, và vài năm qua quyền lực của lão đã bắt đầu suy yếu. Lão có nhược điểm là kết hôn với một cô gái trẻ đẹp. Cô nàng đã đúc cho lão một bé trai kháu khỉnh. Nàng chết khi sinh nở, còn chú nhóc thì giờ đã lên hai. Lão đang phải cân nhắc về tương lai của nó vì biết rằng phút lâm chung đang đến gần, và rằng thiếu lão thì cái cosca này sẽ bị các cosca mạnh hơn của bọn Corleone và Clericuzio nghiền nát.
Bây giờ lão cảm ơn ba anh bạn bồ tèo vì sự giúp đỡ và lòng kính trọng mà họ đã thể hiện khi vượt ngàn trùng tới đây để nghe lời trăng trối của lão. Rồi lão nói với cả ba rằng lão muốn thằng con bé bỏng của lão, Astorre, được đưa đến một nơi an toàn, được nuôi dạy trong những hoàn cảnh khác nhưng phải bảo đảm truyền thống của một người trọng danh dự như chính lão.

- Ta có thể chết với lương tâm thanh thản, lão nói, tuy nhiên đám bạn bồ tèo của lão biết tỏng sinh thời lão đã làm hàng trăm người mất mạng, nếu ta thấy con ta tới được nơi an toàn. Trong thằng bé mới hai tuổi đầu này ta thấy trái tim và tâm hồn của một Mafioso(2) chính thống, một phẩm chất hiếm hoi và hầu như đã mất.

Lão nói với họ rằng sẽ chọn một trong số họ làm giám hộ cho đứa con đặc biệt của lão, và với trọng trách này, sẽ có những phần thưởng lớn.

- Chuyện này đến lạ, Trùm Zeno nói, nhìn đăm đăm qua đôi mắt mờ đục.

Theo tục lệ, đứa con cả phải là một mafioso thực thụ. Nhưng với ta, phải đến khi vào tuổi tám mươi ta mới có thể biến ước mơ thành hiện thực. Ta không phải là một người mê tín, nhưng nếu phải, ta tin rằng thằng bé được sinh ra từ chính mảnh đất Sicily này. Mắt nó xanh như quả ô liu trên những cây tốt nhất của ta. Nó có tính nhạy cảm của người Sicily – lãng mạn, say mê âm nhạc, vui vẻ. Tuy nhiên, nếu kẻ nào xúc phạm nó, nó sẽ không quên, dù còn nhỏ tuổi. Nhưng nó phải được chỉ bảo.

- Vậy ngài muốn gì ở chúng tôi, thưa Don Zeno? Craxxi hỏi. Tôi sẽ rất vui được mang cậu nhà đi và nuôi nấng cậu ấy như con đẻ.
Bianco tức tối lườm Craxxi, Tôi biết cậu bé từ lúc cậu ấy được sinh ra. Cậu ấy quen thuộc với tôi. Tôi sẽ coi cậu ấy như con tôi.

- Thế còn chú, Raymonde? Trùm Zeno hỏi.
Aprile đáp
- Nếu ngài chọn tôi thì con ngài là con tôi.
Ông Trùm cân nhắc cả ba, tất cả đều là những người bạn quý giá. Dù mỗi người mỗi vẻ Craxxi thông minh nhất, Branco chắc chắn có tham vọng và năng động nhất. Aprile tự chủ hơn, gần gũi với lão hơn. Nhưng y là kẻ nhẫn tâm.

Ngay cả trong phút lâm chung Trùm Zeno vẫn hiểu rằng người cần cho cậu bé chính là Aprile. Y sẽ hưởng lợi nhiều nhất qua tình yêu con trẻ, và bảo đảm y sẽ dạy con trai lão học được cách tồn tại trong cái thế giới phản trắc của chúng.
Trùm Zeno im lặng một lúc lâu. Cuối cùng lão nói,
- Raymonde, chú sẽ là cha nó. Ta có thể ra đi thanh thản được rồi.

Đám tang thật xứng với một ông Trùm. Tất cả các trùm cosca ở Sicily đều đến bày tỏ lòng kính trọng của mình, thêm vào đó còn có văn phòng bộ trưởng từ Roma, các chủ nhân của latifundia đồ sộ, và hàng trăm thần dân của cái cosca rộng lớn của lão. Trên đỉnh xe tang là cậu bé lên hai Astorre Zeno, một đứa bé có đôi mắt nẩy lửa mặc áo dài đen, đội mũ trùm đen, uy nghi như một hoàng đế La mã.

Đức hồng y giáo chủ Palermo chủ trì tang lễ cất tiếng ca tụng
Khi ốm đau cũng như khi khỏe mạnh, khi bất bạnh cũng như khi tuyệt vọng, Don Zeno vẫn là một người bạn đích thực của tất cả mọi người. Rồi cha ngân nga những lời cuối cùng của Trùm Zeno, con gửi gắm mình cho Chúa. Người sẽ tha thứ cho những tội lỗi của con vì con đã sám hối từng ngày để xứng đáng được người soi xét.

Và thế là Astorre Zeno được Raymonde Aprle đưa sang Mỹ và trở thành thành viên trong gia đình Aprile.

Chương 1

Khi hai anh em sinh đôi nhà Sturzo, Franky và Stace, quẹo vào con đường dẫn tới nhà Heskow, chúng thấy bốn thiếu niên cao lêu đêu đang chơi bóng rổ trên sân bóng nhỏ cạnh nhà. Franky và Stace xuống xe, một chiếc buick to đùng, và Heskow bước ra đón chúng. Y là đứa cao lớn, hình trái lê. Mái tóc thưa của y khoanh tròn gọn ghẽ trên đỉnh cái đầu hói, còn cặp mắt xanh ty hý của y long lanh.

- Thật đúng lúc, y nói, Tao muốn tụi mày gặp một người.
Trận đấu bóng tạm dừng. Heskow nói đầy hãnh diện,
- Đây là Jocko, con trai tao. Đứa cao nhất trong đám thiếu niên chìa bàn tay to bè về phía Franky.
- Ê, Franky nói, Đấu với bọn tao một hiệp chứ?

Jocko nhìn hai ông khách. Họ cao khoảng sáu bộ và có vẻ khỏe mạnh. Cả hai mặc sơmi cổ lọ hiệu Ralph Lauren một màu đỏ, một màu xanh, quần kaki và giày đế cao su. Họ là những kẻ dễ gần, bảnh trai, khuôn mặt cương nghị toát lên vẻ tự tin lịch thiệp. Rõ đây là hai anh em nhưng Jocko không biết hai ông khách này là anh em sinh đôi. Cậu đoán họ mới ngoài bốn mươi.

- Được ạ, Jocko đáp với vẻ hồn nhiên con trẻ.
Stace cười toe toét,

- Hay lắm. Bọn tao vừa vượt qua ba ngàn dặm nên cũng cần thư giãn chút đỉnh.

Jocko ra hiệu cho các bạn, tất cả đều cao trên mét tám và nói:

- Chúng nó về bên cháu, đấu với ba người bên các chú. Vì cậu là người chơi tốt hơn nên cậu nghĩ chia phe như thế này sẽ cho những người bạn của cha cậu một cơ hội.

- Nương tay thôi nhé, John Heskow bảo bọn trẻ.

- Các chú ấy chỉ là những anh già đang tiêu phí thì giờ vào những việc với vẩn thôi.

Lúc đó là giữa chiều một ngày tháng 12 và không khí lạnh đủ để cần hâm lại bầu nhiệt huyết. Ánh mặt trời Long Island lạnh lẽo, vàng nhạt hắt xuống từ những mái vòm thủy tinh và những bức tường của dãy nhà trồng hoa của Heskow, lĩnh vực kinh doanh bề ngoài của y.

Đám bạn của Jocko phấn chấn thi đấu làm vui lòng cánh người lớn. Nhưng bất thình lình Franky và Stace lao vèo qua đám trẻ để ném bóng vào rổ. Jocko kinh ngạc về tốc độ của hai gã. Thế rồi chúng lại không ném rổ mà chuyền trái bóng cho cậu. Những vị này không ném trật đâu. Đây có lẽ là một cử chỉ thân thiện.

Các cậu bé bắt đầu sử dụng chiều cao của mình để vượt qua phe người lớn, nhưng lạ thay chúng chỉ có được vài lần đập bóng. Cuối cùng, một trong số các cậu bé mất tự chủ đã tặng Franky một củi trỏ ra trò vào giữa mặt. Ngay lập tức cu cậu lăn ra đất. Chứng kiến từ đầu, Jocko vẫn không biết việc này xảy ra như thế nào. Nhưng rồi Stace đập trái bóng vào đầu ông em nói:
- Thôi nào, chơi đi, mày ngu quá.

Franky đỡ chú nhóc đứng lên, vỗ vào mông chú làm lành
- Này, tao xin lỗi. Cả bọn chơi khoảng hơn năm phút nữa thì bỏ cuộc.
Heskow mang soda ra sân bóng cho cả bọn. Các chú nhóc vậy quanh Franky, kẻ có tài năng siêu phàm và đã chứng tỏ những kỹ năng nhà nghề trên sân. Franky ôm chặt cậu bé gã vừa hạ đo ván. Gã hiện nguyên hình là một kẻ bông lơn, khuôn mặt xương xẩu của gã trở nên dễ chịu.

- Cho phép tao dành cho tụi mày vài lời khuyên của một người lớn tuổi, gã nói, Đừng khi nào dẫn bóng khi tụi mày có thể chuyền. Đừng bỏ cuộc khi tụi mày đang bị dẫn điểm, và đừng bao giờ đi chơi với một ả đàn bà có hơn hai cái mồm.

Bọn trẻ phá lên cười.
Franky và Stace bắt tay chúng, cảm ơn chúng vì cuộc chơi rồi theo gót Heskow vào một căn nhà màu xanh xinh xắn. Jocko gọi với theo,
- Này, các chú cừ thật đấy!
Trong nhà, Heskow dẫn hai gã lên lầu, về phòng của chúng. Căn phòng có cánh cửa nặng nề và ổ khóa chắc chắn. Cả hai ngó nghiêng quan sát trong lúc Heskow để chúng vào và khóa trái cửa lại.

Căn phòng rất rộng, như cả một căn hộ, có phòng tắm riêng, hai giường đơn – Heskow biết hai anh em này thích ngủ chung phòng. Ở góc tường kê chiếc hòm lớn gắn đai thép với ổ khóa tổ bố bằng kim loại. Heskow dùng chìa khóa mở hòm rồi đẩy bật nắp hòm lên. Lộ ra trước mắt vài khẩu súng ngắn, súng tự động, hộp đạn. Trông y như các khối hình học màu đen.

- Được chứ? Heskow hỏi.
- Tao không thấy nòng giảm thanh, Franky nói.
- Tụi mày đâu có cần đến nòng giảm thanh cho việc này.
- Tốt thôi, Stace nói, Tao cũng ghét ba cái thứ giảm thanh đó lắm. Có nó tao đếch làm nên trò trống gì.

- OK, Heskow nói. Tắm táp rồi nghỉ ngơi đi. Tao sẽ tống tiễn lũ nhóc và nấu bữa khuya. Ê, tụi mày thấy thằng con tao thế nào hả?
- Một thằng bảnh đấy, Franky nhận xét.
- Tụi mày có khoái cái cách nó chơi bóng không? Heskow hỏi với một niềm tự hào không giấu giếm, nó càng làm y giống với một quả lê chín hơn.
- Một thằng đặc biệt, Franky nói.
- Stace, mày nghĩ sao?, Heskow hỏi.
- Rất đặc biệt, Stace trả lời.
- Nó được một suất học bổng tại Villanova, Heskow khoe, NBA cơ đấy.

Lát sau, khi quay xuống phòng khách, hai anh em Sturzo thấy Heskow đang ngồi chờ chúng. Y đã chuẩn bị mót thịt bê rán với nấm và salad trộn. Một chai vang đỏ để trên một bàn ăn dọn cho ba người.
Cả bọn ngồi vào bàn. Chúng là chỗ bạn bè thân thiét và biết rõ về nhau. Heskow đã ly dị mười ba năm. Cô vợ cũ và Jocko sống cách đây vài dặm về phía tây, ở Babylon. Nhưng phần lớn thời gian Jocko ở đây, và Heskow là một người cha tận tụy hết lòng vì con.

- Tụi mày phải lên đường vào sáng mai, Heskow mở đầu. Nếu biết trước rằng sẽ đến hôm này thì sao đã tống thằng nhóc đi chỗ khác. Đến lúc mày phôn tới thì tao chịu, không thể xua nó và lũ bạn nó đi đâu được nữa.

- Không sao đâu, Franky nói. Nhằm nhò mẹ gì.
- Với lũ nhóc ngoài kia thì tụi mày cừ lắm. Song có lúc nào tụi mày tự hỏi liệu có chơi ngang ngửa được với cánh nhà nghề không? Heskow nói.
- Không, Stace nói. Tui tao quá thấp, chỉ cao có 6 bộ. Những trái cà tím ấy quá to so với tụi tao

- Đừng có nói như thế trước mặt tụi nhóc, Heskow nói, ghê bỏ mẹ.
Heskow thư giãn, nhấm nháp từng ngụm rượu. Y lúc nào cũng thích làm việc với anh em Sturzo. Cả hai đều thích bông lơn, không đến nỗi xấu xa như phần lớn đám cặn bã mà y phải giao du. Chúng tận hưởng sự thanh thản trong cái thế giới phản ánh những lọc lừa giữa chúng với nhau. Chúng vững vàng và điều đó đem lại cho chúng một cảm giác thú vị.
Ba đứa ăn chậm rãi, uể oải. Heskow cầm chảo đổ thẳng thức ăn vào đĩa của bọn chúng.

- Tao muốn hỏi, Fraky quay sang Heskow. Tại sao mày lại đổi tên hả?
- Chuyện đó xưa rồi, Heskow nói. Tao đâu có xấu hổ khi là một người Italy. Nhưng tụi mày biết đấy, tao lại giống một thằng Đức chó chết. Tóc vàng hoe, mắt xanh và cả cái mũi này nữa. Việc tao mang một cái tên Italy đúng là đáng nghi còn gì.

Hai thằng anh em sinh đôi phì cười, tiếng cười thoải mái và cảm thông. Chúng lạ gì bụng cha nội này đầy cứt, nhưng chúng cóc cần.
Khi chúng ăn xong món salad trộn Heskow tiếp thêm cafe đặc và một đĩa bánh ngọt kiểu Italy. Y mời xì gà nhưng hai thằng từ chối. Chúng chỉ hút Marlboros, loại này hợp với những cái mặt miền Tây đầy nếp nhăn của chúng.
- Đến lúc bàn công việc rồi đấy”, Stace lên tiếng. Đây hẳn phải là một việc ra trò nếu không việc đéo gì tụi tao phải lái xe ba ngàn dặm đường? Tụi tao có thể đi máy bay cơ mà.

- Cũng không tệ đến thế, Franky nói. Tao khoái đi xe. Tụi mình được xem nước Mỹ, xem trực tiếp, sờ vào được. Tụi mình có một khoảng thời gian vui vẻ. Dân tỉnh lẻ thế mà hay ra phết.
- Hết sảy ấy chứ, Stace nói. Nhưng gì thì gì đó vẫn là một chuyến đi dài.
- Tao không muốn để lại bất kỳ một dấu vết nào tại phi trường, Heskow tiếp tục. Đấy là nơi đầu tiên sẽ bị kiểm tra. Cớm sẽ được tăng cường đến đó. Các cha nội vẫn dè chừng cớm đấy chứ?

- Đừng có mà dọa tao. Stace vặc lại. Còn bây giờ mày nói đi, nó là thằng đéo nào?
- Trùm Raymonde Aprile, khi thốt ra cái tên đó Heskow gần như nghẹt thở trong món cafe đậm đặc của y.
Một không khí im lặng kéo dài, rồi Heskow lần đầu tiên nhận ra cái chết lạnh người mà hai thằng sinh đôi vừa để lộ.
Franky hỏi nhỏ

- Mày bắt tụi tao đi ba ngàn dặm để lãnh cái án tử hình này sao?
Stace cười với Heskow và nói
- John, thật hân hạnh được biết mày. Bây giờ hãy trả thuế sát sinh để tụi tao còn lên đường. Cả hai anh em nhà Sturzo cười khằng khặc vì câu đùa đó, còn Heskow vẫn tỉnh bơ.

Một trong số những đứa bạn của Franky ở Los Angeles, một văn sĩ tự do, đã có lần giảng giải cho anh em gã rằng người ta không cần mua cả kho đạn. Để giết một mạng người chỉ cần trả một khoản lệ phí thỏa thuận là đủ. Anh em gã thấm nhuần thực tế đó. Chúng ra giá chỉ để nghe ngóng một thỏa thuận. Lần này, tính cả chi phí đi đường và cả hai đứa cùng tham gia, lệ phí giết mướn là hai mươi ngàn đô la.

Dẫu vậy, thuyết phục chúng nhận nhiệm vụ đâu phải dễ.
- Lão Trùm về hưu ba năm rồi, Heskow nói. Tất cả các mối làm ăn cũ của lão đang nằm bóc lịch. Lão đâu còn quyền hành gì. Người duy nhất có thể gây rắc rối là Timmona Portella, nhưng ông ta sẽ không động tay. Thù lao của tụi mày là một triệu đô. Một nửa được trả khi xong việc, nửa còn lại được trả trong một năm. Nhưng trong năm đó tụi mày phải nằm yên. Bây giờ mọi việc đã xong. Tất cả những gì tụi mày phải làm chỉ là bóp cò.

- Một triệu đô, Stace thảng thốt. Đó là món tiền lớn.
- Khách hàng của tao biết đây là bước đi quan trọng để dập Trùm Aprile, Heskow nói tiếp. Nó cần một sự trợ giúp tốt nhất. Những tay súng lạnh lùng và những cộng sự thầm lặng có đầu óc. Tụi mày đơn giản là những thằng cừ nhất.

Franky nói
- Cũng chẳng mấy thằng chấp nhận mạo hiểm.
- Ừ, Stace vào hùa. Mãy sẽ phải sống với nó suốt quãng đời còn lại của mày. Một thằng cứ lẵng nhẵng bám theo mày, đấy là chưa kể cớm và tụi FBI nữa.
- Tao hứa với tụi mày, Heskow nói Cớm New York sẽ chẳng ra khỏi nhà. Bọn FBI cũng không thèm động chân động tay.

- Thế còn đám bồ cũ của lão Trùm ? Stace hỏi.
- Người chết không có bạn. Heskow dừng lại một lát. Lúc về hưu lão đã cắt đứt mọi quan hệ. Có đếch gì mà phải lo.
Franky quay sang Stace, chẳng buồn cười lắm sao, trong tất cả các hợp đồng của tụi mình người ta luôn nói chẳng có gì phải lo lắng cả.
Stace phá lên cười.

- Thì cái bọn nói câu đó có phải bóp cò súng đâu. John, mày là chỗ bạn bè, tụi tao tin mày. Nhưng nếu mày nhầm thì sao ? Ai cũng có thể nhầm lẫn. Sẽ ra sao nếu lão Trùm vẫn còn bạn bè cũ ? Mày biết lão phản kích thế nào rồi. Đừng hòng có khoan dung. Tụi tao sẽ bị đóng đinh, tụi tao không chỉ bị giết. Thêm nữa, gia đình tụi tao sẽ lên giàn thiêu tho luật của lão. Có nghĩa là thằng con mày không thể thi đấu cho NBA ở dưới mồ được. Có lẽ tụi tao cần phải biết ai đang trả tiền cho vụ này.
Heskow nghiêng người qua phía chúng. Nước da trắng của y đỏ ửng cứ như thể y đang xấu hổ.

- Tao không thể nói với tụi mày được. Tụi mày biết thế mà. Tao chỉ là người mối lái. Và tao cũng đã nghĩ tới tất cả những điều cứt đái khác. Tụi mày nghĩ tao là một thằng chó chết ngu xuẩn hay sao ? Có đứa nào không biết Trùm Aprile là ai không ? Nhưng lão hết đường rồi. Tao có được bảo đảm từ thượng đỉnh. Cảnh sát sẽ chỉ làm chiếu lệ. FBI không thể điều tra được. Còn các trùm Mafia sẽ không can thiệp. Chắc chắn đấy.

- Nằm mơ tao cũng chưa khi nào thấy Trùm Aprile sẽ là một trong số các nạn nhân của tao, Franky nói. Việc giết một người đáng sợ và đáng kính đến thế đã chạm đến bản ngã của gã.

- Franky, đây đâu phải là một trận bóng, Stace lên tiếng cảnh báo. Nếu tụi mình thất bại, tụi mình sẽ không còn vẫy tay và ra khỏi sân thi đấu được.
- Stace, những một triệu đô cơ mà, Fraky nói. Mà John đời nào chịu để tụi mình hỏng việc. Nào, làm tới đi.

Stace cảm nhận được nỗi kích động của chúng. Quỷ tha ma bắt. Gã và Franky có thể tự lo được cho mình. Sau cùng, lại còn một triệu đô. Thực ra Stace còn vụ lợi hơn Franky, máu ăn thua hơn và một triệu đô làm gã sôi lên.
- OK, Stace nói. Tụi tao nhận vụ này. Xin chúa rủ lòng nhân từ cho linh hồn chúng con nếu chúng con đắc tội. Đã có thời gã là một cậu bé giúp việc làm thánh lễ trong nhà thờ.

- Ngộ nhỡ lão Trùm đang bị FBI để mắt đến thì sao ? Franky hỏi. Tụi mình có phải lo chuyện đó không ?
- Không, Heskow trả lời. Khi tất cả đám bồ bịch của lão vào khám, lão về hưu như một người đáng kính. FBI đánh giá cao việc đó. Chúng để lão được yên. Tao bảo đảm mà. Bây giờ hãy để tao trình bày.
Y mất đứt nửa tiếng đồng hồ đẻ trình bày kế hoạch một cách chi tiết.
Cuối cùng Franky hỏi : Khi nào ?

- Sáng chủ nhật, Heskow nói. Hai ngày đầu tụi mày ở đây. Sau đó một máy bay tư nhân sẽ đưa tụi mày rời khỏi Newark.
- Tụi tao cần phải có một tay xế giỏi, Stace đề nghị. Loại đặc biệt ấy.
- Tao sẽ lái, Heskow nói, rồi y bổ sung thêm, giọng đầy nuối tiếc. Đây là một ngày hội phát lương.

Cho đến hết kỳ nghỉ cuối tuần, Heskow trông nom anh em nhà Sturzo, nấu cho chúng ăn, chạy những việc vặt cho chúng. Y không phải loại người dễ bị gây ấn tượng, nhưng hai thằng Sturzo thỉnh thoảng lại làm y lạnh sống lưng. Chúng giống loài rắn độc, đầu óc lúc nào cũng tỉnh táo. Được cái chúng hợp tính nhau và thậm chí còn giúp y chăm sóc hoa hoét trong khu nhà kính.
Hai đứa chơi bóng theo kiểu một chọi một ngay trước bữa ăn khuya còn Heskow say mê quan sát cách chúng uốn mình vờn nhau như loài rắn. Franky nhanh nhẹn hơn và là một tay thiện xạ. Stace không được như thế nhưng lại thông mình hơn. Franky lẽ ra đã có thể gia nhập NBA, Heskow nghĩ bụng. Nhưng đây không phải là một trận bóng rổ. Trong một trận đấu thực sự, kẻ có mặt hẳn phải là Stace. Hắn sẽ là tay súng quan trọng nhất.


(còn nữa)
 
Sửa lần cuối:
letmyha

letmyha

Hư không
18/5/04
826
6
0
37
The land of the living
#2
Luật im lặng

Chương 2

Cuộc tập kích quy mô của FBI trong thập niên 90 vào các gia đình Mafia New York chỉ để sổng hai mạng. Trùm Raymonde Aprile, sộp nhất và cũng đáng sợ nhất vẫn còn chưa bị tóm. Kẻ còn lại, Trùm Timmona Portella, quyền lực cũng gần bằng nhưng thuộc đẳng cấp quá thấp hèn, đào thoát bởi một lý do có vẻ hoàn toàn may mắn.

Nhưng tương lại đã rõ ràng. Với luật RICO ban bố năm 1970 nới rộng khung hình phạt, với sự hăng hái của các đội đặc nhiệm FBI và việc phản bội luật Omerta trong nội bộ Mafia Mỹ, Trùm Raymonde Aprile biết đã đến lúc lão phải rời bỏ chiếc ghế của mình.

Trùm Aprile đã cai quản “gia đình” suốt ba mươi năm và giờ đây đã trở thành huyền thoại. Được nuôi dạy ở Sicily, lão không hề có những ý tưởng sai lầm hay vẻ cao ngạo đài các của các tay trùm Mafia sinh ra trên đất Mỹ. Trên thực tế, lão mang trong mình dòng máu của những người Sicily cổ hủ thế kỷ XIX, những người đã cai quản các thành phố và làng mạc bằng uy danh cá nhân, óc hài hước, bằng những phán xử chết chóc và dứt khoát của mình với bất kỳ ai bị nghi ngờ là kẻ thù. Lão hóa ra cũng có được cái thao lược của những anh hùng thời đó.

Bây giờ, ở tuổi sáu hai, lão có một cuộc sống ngăn nắp. Lão đã thẳng tay trừ khử kẻ thù và hoàn thành trách nhiệm làm bạn, làm cha của mình. Lão có thể vui thú tuổi già với đầu óc thảnh thơi, có thể rút lui khỏi cái thế giới đầy bất hòa của lão để đảm nhận vai trò chủ nhà băng lịch lãm hay trụ cột của xã hội phù hợp hơn.

Ba đứa con lão đều có những nghề nghiệp cao quý và đều đã thành đạt. Cậu cả Valerious lúc này ba bảy tuổi, đã có vợ và con, mang hàm đại tá quân đội Mỹ và là giảng viên học viện West Point. Chính cái tính dụt dè như trẻ con đã xác định nghề nghiệp của cậu. Trùm Aprile may mắn giành được một suất bổ nhiệm học viên sĩ quan tại học viện West Point để điều chỉnh khiếm khuyết trong tính cách của con trai lão.

Cậu con thứ, Marcatonio, mới bước qua tuổi ba lăm, ngoài vài bí ẩn trong biến dạng gen, là trưởng ban điều hành một mạng lưới truyền hình quốc gia. Khi còn nhỏ cậu sống ủ rũ trong một thế giới tưởng tượng và ông Trùm nghĩ cậu sẽ thất bại tại bất kỳ một công ty làm ăn nghiêm túc nào. Vậy mà bây giờ tên cậu lại thường xuất hiện trên báo chí như một mẫu người đầy sức sáng tạo và có nhân quan sâu sắc. Điều đó làm Aprile rất khoái nhưng không làm lão tin. Suy cho cùng, lão là cha nó. Ai hiểu con rõ hơn cha?

Cô út Nicole, khi còn nhỏ được gọi một cách trìu mến là Nikki, nhưng từ năm lên sáu đã yêu cầu thẳng thừng phải gọi bằng tên riêng, là người bạn tranh luận mà lão yêu thích. Ở tuổi hai chín nàng là luật sư, là người ủng hộ phong trào bình đẳng của phụ nữ, và là một luật sư Pro bono (1) của những tội phạm nghèo và tuyệt vọng, những người không thể nhận được sự biện hộ hợp pháp thích đáng. Nàng đặc biệt xuất sắc trong việc cứư những kẻ giết người thoát khỏi ghế điện, những phụ nữ giết chồng thoát khỏi vòng lao lý, những kẻ hiếp dâm tái diễn được ban thêm thời hạn sống. Nàng hoàn toàn phản đối án tử hình, tin vào sự hoàn lương của bất kỳ phạm nhân nào, là người chỉ trích mạnh mẽ cơ cấu của nền kinh tế Mỹ. Nàng cho rằng một đất nước giàu như Mỹ không thể dửng dung với người nghèo bất kể những khiếm khuyết của họ. Hơn thế nữa, nàng còn là một nhà thương thuyết đầy năng lực và cứng rắn trong Hội luật gia, là một phụ nữ nổi bật và mạnh mẽ. Ông Trùm chẳng đồng ý với nàng ở bất kỳ vấn đề nào.

Về phía Astorre, cậu là mọt bộ phận của gia đình và gần gũi với ông Trùm như một đứa cháu trên danh nghĩa. Với những người con của lão, cậu giống như một đứa em bởi sinh lực và sức cuốn hút mạnh mẽ của cậu. Từ lúc lên ba tới năm mười sáu cậu là người bạn tâm giao của họ, là đứa em ruột thịt bé bỏng và yêu mến của họ - cho đến khi cậu tha hương tới Sicily mười một năm trước đây. Mãi đến khi về hưu ông Trùm mới gọi cậu trở về.
Trùm Aprile lập kế hoạch về hưu của mình một cách cẩn thận. Lão chẳng những hiến đế chế của mình để giảng hòa với những kẻ thù tiềm tàng mà còn tặng quà cho đám bạn bè trung tín dù lão từa biết lòng biết ơn hiệu quả chẳng được bao nhiêu và rằng quà cáp phải luôn được bổ sung. Lão đặc biệt thận trọng xoa dịu Timmona Portella. Đó là kẻ nguy hiểm bởi tính tình lập dị và côn đồ đôi khi khó lường trước được.

Bằng cách nào mà Portella thoát được cuộc bố ráp của FBI những năm 90 là một điều bí ẩn với tất cả mọi người. Hắn là một trùm sinh ra trên đất Mỹ. Hắn ít sắc sảo, đầy khinh suất và thiếu tự chủ. Hắn có một thân hình ngoại cỡ cùng cái bụng bự và ăn mặc đầy màu sắc và lụa là giống hệt một Picciôtt xứ Palermo, một gã giết người tập sự trẻ tuổi. Quyền lực của hắn dựa vào việc cung cấp ma túy bất hợp pháp. Hắn chưa vợ và mãi đến tuổi năm mươi vẫn là một kẻ phóng đãng. Hắn chỉ thể hiện lòng yeu mến đích thực với thằng em Bruno, gã này có vẻ hơi chậm phát triển về thể chất nhưng lại chia sẻ với ông anh tính tình hung bạo.

Trùm Aprile chưa bao giờ tin Portella và ít khi làm ăn với hắn. Một kẻ nguy hiểm vì yếu điểm của mình là một kẻ cần phải làm mất tác dụng. Vì vậy lão mời Timmona Portella tới gặp.

Portella đến cùng thằng em Bruno. Aprile đón chúng với thái độ lịch thiệp không ồn ào thường ngày rồi nhanh chóng đi thẳng vào vấn đề.

- Timmona thân mến của tôi, lão nói. Tôi đang rút ra khỏi các mối làm ăn, trừ các nhà băng của mình. Giờ chú sẽ nổi như cồn trong con mắt của mọi người. Nếu khi nào đó chú cần một lời khuyên thì cứ phone cho tôi. Về dưỡng già tôi vẫn hoàn toàn không thiếu người giúp đỡ đâu nhé.

Bruno, một bản sao nhỏ của ông anh, kẻ kinh sợ danh tiếng của Aprile, mỉm cười vui vẻ vì lòng kính trọng được dành cho anh gã. Nhưng Timmona hiểu lão già hơn nhiều. Hắn biết mình đang bị đe dọa.
Hắn cúi đầu về phía lão một cách kính cẩn.

- Anh luôn dành cho tất cả chúng tôi ý kiến đúng đắn nhất, hắn nói. Và tôi tôn trọng những gì anh đang làm. Cứ tin tôi như một người bạn của anh.

- Tốt lắm, tốt lắm, Trùm Aprile nói. Bây giờ, như một món quà tặng chú, tôi đề nghị chú lưu tâm đến lời cảnh báo này. Cilke, người của FBI, là thằng xảo trá. Đừng bao giờ tin nó. Nó đang say sưa với thành tích của mình và chú sẽ là mục tiêu tiếp theo của nó đấy.

- Nhưng tôi đã thoát khỏi tay nó rồi cơ mà, Timmona nói. Dù nó đã tóm tất cả anh em tụi mình. Tôi cóc sợ nó nhưng tôi cảm ơn anh.
Tất cả uống mừng, rồi anh em Portella chuồn. Trên xe Bruno nói
- Một người vĩ đại làm sao.
- Ừ, Timmona tán thành. Thằng cha này quả là một người vĩ đại.
Về phía Trùm Aprile, lão rất hài lòng. Lão đã thấy nỗi sợ hãi trong mắt Timmona và lão chắc rằng sẽ chẳng còn mối nguy nào cho mình nữa.
Trùm Aprile đề nghị được gặp riêng với Kurt Cilke, sếp FBI ở New York. Cilke, trước sự ngạc nhiên cảu chính lão, lại là người được lão khâm phục nhất. Ông đã tống hầu hết các trùm Mafia miền duyên hải phía đông vào khám và hoàn toàn bẻ gãy sức mạnh của chúng.
Trùm Raymonde Aprile đã thoát khỏi tay ông vì lão biết tên chỉ điểm bí mật của ông, kẻ đã giúp ông thành công. Tuy nhiên lão thậm chí còn thán phục ông hơn vì ông luôn chơi đẹp, không khi nào vu cáo hay dùng vũ lực, chưa một lần công khai những dấu vết nhằm vào con cái lão. Vì vậy lão thấy cần cảnh báo cho ông cũng là lẽ công bằng.
Cuộc gặp diễn ra tại điền trang của Aprile ở Montauk. Cilke phải đến một mình, vi phạm nguyên tắc của ngành. Đích thân giám đốc FBI chấp thuận nhưng cố nài Cilke sử dụng một thiết bị ghi âm đặc biệt được gắn chặt vào người, phía dưới mạng sườn, để không bị phồng lên phía ngoài thân thể ông. Thiết bị này chưa từng được biết đến và cơ sở chế tạo ra nó được kiểm soát hết sức ngặt nghèo. Cilke nhận ra rằng mục đích đích thực của chiếc máy là ghi âm những gì ông nói với Trùm Aprile.
Họ gặp nhau vào một chiều vàng tháng 11 tại hiên nhà lão. Cilke chưa bao giờ vào được ngôi nhà này với một thiết bị nghe lén, một vị quan tòa được đội bảo vệ liên tục bao quanh. Ngày hôm ấy ông không hề bị người của ông Trùm khám xét. Điều đó làm ông ngạc nhiên. Rõ ràng, Raymonde Aprile sẽ không đưa ra một đề nghị sai quấy nào với ông.
Như mọi khi, Cilke bị ngạc nhiên, thậm chí còn hơi ho lắng bởi cái ấn tượng mà Aprile gây ra. Dù biết rằng lão đã ra lệnh cho cả trăm kẻ sát nhân, vi phạm vô số luật lệ của xã hội, Cilke vẫn không hề ghét lão. Những loại người tội lỗi như vậy, tuy tin, nhưng ông vẫn ghét cay ghét đắng cái lối chúng hủy hoại cơ cấu của nền văn minh.

Trùm Aprile mặc bộ đồ sẫm, cà vạt sẫm và áo sơ mi trắng. Nét mặt lão trang nghiêm toát lên vẻ hiểu biết. Trên mặt lão là những đường nét dịu dàng của một người đức độ đáng mến. Làm sao một khuôn mặt đầy nhân tính thế kia lại có thể thuộc về một kẻ nhẫn tâm như vậy, Cilke tự hỏi.
Ông Trùm không mời bắt tay vì không muốn làm Cilke bối rối. Lão chỉ cúi đầu chào.

- Tôi đã quyết định đặt tôi và gia đình dưới sự che chở của các ngài – nghĩa là, sự che chở của xã hội, lão nói.
Cilke ngạc nhiên. Lão già này định ám chỉ cái quái gì thế nhỉ?
- Suốt hai mươi năm qua ngài là kẻ thù của tôi. Ngài truy đuổi tôi. Nhưng tôi luôn biết ơn lòng quân tử của ngài. Ngài không tìm cách gài bẫy hay khuyến khích việc khai man chống lại tôi. Ngài đã tống hầu hết bạn bè tôi vào nhà đá và ngài đã hết sức để cố gắng làm điều tương tự đối với tôi.
Cilke mỉm cười.
- Thì tôi vẫn đang cố đây.
Lão già gật đầu cảm kích.
- Tôi đã rũ sạch mình khỏi mọi mối nghi ngờ, ngoại trừ vài nhà băng bảo đảm làm ăn đứng đắn. Tôi đã quyết định đặt mình dưới sự che chở của xã hội các ngài. Đổi lại, tôi sẽ thực hiện bổn phận của mình đối với xã hội đó. Ngài có thể làm cho mọi việc dễ dàng hơn nếu không truy đuổi tôi, bởi lẽ đâu cần như thế nữa.

Cilke nhún vai.
- Cấp trên là người quyết định. Tôi đã bám theo ngài từng ấy năm tại sao bây giờ bỗng phải dừng lại chứ? Tôi có thể gặp may mà.
Khuôn mặt ông Trùm trở nên nghiêm nghị hơn và mệt mỏi hơn.
- Tôi có cái để trao đổi với ngài. Thành tích to lớn của ngài vài năm qua đã ảnh hưởng đến quyết định của tôi. Vấn đề là ở chỗ tôi biết tên chỉ điểm đáng giá của ngài, tôi biết nó là đứa nào và tôi chưa nói với ai cả.
Cilke lưỡng lự vài giây trước khi ông thản nhiên nói
- Tôi làm quái gì có tên chỉ điểm nào như vậy. Tôi xin nhắc lại, cấp trên là người quyết định chứ không phải tôi. Ngài đang làm mất thì giờ của tôi đấy.
- Không, không, Lão già phản ứng lại. Tôi không tìm kiếm một lợi thế mà chỉ tìm một thỏa hiệp. Cho phép tôi, vì tuổi tác đã nhiều, nói với ngài những gì tôi học được. Đừng dùng sức mạnh bởi vì với ngài nó nằm trong tầm tay. Đừng say sưa với khả năng chắc chắn giành chiến thắng khi sự minh mẫn của ngài mách bảo ngài rằng trong chiến thắng này còn có dấu ấn của bi kịch. Cho phép tôi được bày tỏ giờ đây tôi coi ngài như một người bạn chứ không phải kẻ thù, và ngài thử nghĩ xem ngài được hay mất gì khi từ chối đề nghị này.
- Và nếu ngài đã thực sự về hưu thì kết giao với ngài hỏi còn lợi lộc gì? Cilke mỉm cười hỏi
- Ngài sẽ có thiện chí của tôi, Ông Trùm đáp. Nó thực đáng giá ngay cả với những kẻ mạnh nhất.
Trở về, Cilke quay lại cuốn băng cho Bill Boxton, cấp phó của ông nghe. Boxton hỏi.
- Toàn bộ việc này là thế chó nào hả?
- Lá thứ cậu phải nghe, Cilke bảo anh ta. Lão nói với tôi rằng không hẳn lão không tự vệ được, rằng lão đang để mắt đến tôi.
- Chó chết. Chúng không được giỡn mặt đại diện của Liên bang.
- Phải, Cilke tán thành. Lão có về hưu hay không thì đó chính là lý do tại sao tôi tiếp tục theo dõi lão. Đến giờ tôi vẫn còn phải dè chừng. Chúng ta không chắc lắm...

Sau khi đã nghiên cứu lịch sử của những gia đình danh giá nhất nước Mỹ, những nam tước kẻ cướp đã xây dựng cơ nghiệp của mình một cách tàn bạo trong khi phá vỡ luật pháp và đạo đức của xã hội loài người, Trùm Aprile, giống bọn người đó, bỗng trở thành Mạnh thường quân đối với tất cả. Giống bọn người đó, lão cũng có đế chế của mình - sở hữu mười nhà băng tại các thành phố lớn nhất thế giới. Lão vung tiền ra xây một bệnh viện cho người nghèo. Lão còn hào phóng đong s góp cho nghệ thuật. Lão giành một ghế tại đại học Columbia cho việc nghiên cứu thời kỳ Phục hưng.

Việc đại học Yale và Harvard từ chối hai mươi triệu đô la của lão đổi lấy việc một khu cư xá sinh viên được mạng tên Christopher Culumbus, người lúc đó không có mấy tiếng tăm trong giới trí thức, là có thật, Yale đề nghị được nhận tiền và đặt tên cho khu Cư xá là Sacco và Vanzetti, nhưng Trùm Aprile không khoái hai người này. Lão ghét cay ghét đắng những kẻ tử vì đạo.
Một kẻ kém cạnh hơn sẽ cảm thấy bị lăng mạ và ôm ấp nỗi buồn, nhưng Raymonde Aprile thì không. Thay vào đó lão đơn giản chỉ gửi tiền vào nhà thờ Thiên chúa giáo cho các thánh lễ hàng ngày tán dương vợ lão, người đã hai mươi năm yên nghỉ nơi thiên đường.

Lão cũng hiến một triệ đô la cho HIệp hội cảnh sát từ thiện New York và một triệu khác cho một hiệp hội bảo vệ những người di cư bất hợp pháp. Trong ba năm giải nghệ lão đã vãi phúc lành lên khắp thiên hạ. Ví của lão mở ra cho bất kì yêu cầu nào, chỉ trừ một. Lão từ chối những thỉnh cầu của Nicole đóng góp cho Phong Trào Chống Án Tử Hình - cuộc thập tự chinh mà nàng theo đuổi nhằm chấm dứt việc hành quyết.


Thật đáng ngạc nhiên, chỉ trong ba năm hào phóng làm việc tốt lại có thể xóa sạch tiếng ác của ba mươi năm.
Thì những người vĩ đại vẫn mua tiếng thơm cho mình, mua lòng vị tha vì đã phản bội bạn bè và thi hành những quyết định chết người đấy thôi. Trùm Aprile cũng vậy, lão cũng không tránh khỏi cái yếu điểm chung ấy.
Raymonde Aprile là kẻ sống bằng những luật lệ hà khắc xuất xứ từ chuẩn mực riêng biệt của chính mình.
Nguyên tắc ứng xử của lão đã làm lão được trọng nể suốt hơn ba mươi năm và làm nảy sinh nỗi khiếp sợ lạ thường tạo ra nền tảng uy quyền của lão. Giáo điều chính của nó là hoàn toàn không có lòng nhân từ.
Điều đó bắt nguồn không phải từ cái ác bẩm sinh, từ lòng thèm muốn bệnh hoạn được thấy kẻ khác phải chịu đau đớn và khuất phục mà là từ niềm tin tuyệt đối: Những kẻ ấy luôn luôn từ chối vâng lời. Ngay cả Lucifer, đường đường là một vị thánh, còn bị tống cổ khỏi thiên đường vì dám coi thường Chúa cơ mà.
Vì vậy, một kẻ có tham vọng đang đấu tranh giành quyền lực không có cách lựa chọn nào khác. Tất nhiên, còn có thể thuyết phục, còn có thể nhượng bộ cho tính vụ lợi của con người trên cơ sở bảo đám tính hợp lý. Nhưng nếu tất cả những việc này đổ vỡ thì sẽ chỉ còn hình phạt tử hình. Mối đe dọa của các hình thức trừng phạt khác có thể dẫn đến việc trả thù. Tử hình thì không. Thật đơn giản, việc bị cách ly khỏi cuộc sống nơi trần thế chẳng mấy chốc sẽ rơi vào quên lãng.
Sự phản trắc có tác hại lớn nhất. Gia quyến kẻ phản bội cũng như đám bạn hữu của y sẽ phải đau khổ; toàn bộ thế giới của y sẽ bị hủy diệt. Tuy nhiên cũng có những kẻ dũng cảm vênh vang muốn đặt cược cả đời mình hòng kiếm chác lợi riêng; nhưng họ phải suy nghĩ hai lần về việc làm cho những người thân yêu của mình gặp nguy hiểm. Và thế là bằng cách đó Trùm Aprile đã tạo ra vô vàn nỗi kinh hoàng. Lão dựa vào hành động hào phóng của cải vật chất của mình để giành được sự kính nể và lòng say mê không đáng có của họ.
Nhưng cũng phải nói rằng lão cũng tàn nhẫn như vậy với chính lão. Quyền lực đầy mình là thế song lão vẫn không thể ngăn cản cái chết đến với cô vợ trẻ sau khi cô nàng đã sinh cho lão ba đứa con. Vợ lão đã phải nhận một cái chết từ từ và khủng khiếp vì bệnh ung thư trong khi lão ngồi kề giường bệnh ròng rã sáu tháng trời. Và chính trong thời gian đó lão đâm ra tin rằng vợ lão đã bị trừng phạt chính bởi những tội lỗi ghê gớm mà lão đã gây ra. Vì thế lão quyết định sám hối: sẽ không lấy vợ khác nữa. Lão sẽ gửi con cái đi xa để chúng được hưởng một nền giáo dục trong một xã hội tuân theo pháp luật, như thế chúng sẽ không phải lớn lên trong cái thế giới đầy thù hận và nguy hiểm của lão. Lão sẽ giúp chúng tìm ra đường đi cho mình, cấm chúng dính dáng vào “việc nhà”. Với nỗi buồn thăm thẳm lão tin rằng mình sẽ không bao giờ biết đến bản chất đích thực của tư cách làm cha.
Vậy là lão thu xếp để Nicole, Valerious và Marcantonio được gửi đến một trường tư nội trú, và không khi nào cho chúgn chia sẻ cuộc sống riêng tư của lão. Ngày nghỉ chúng về nhà, lão đóng vai một người cha biết quan tâm lo lắng, nhưng dè dặt, vậy thôi.
Bất chấp mọi thứ và dù hiểu rõ tai tiếng của lão, bọn trẻ vẫn yêu bố. Chúng không bao giờ nói đến những chuyện này khi chỉ có chúng với nhau. Đó là một trong số các bí mật của gia đình lại chẳng còn là điều bí mật.
Không ai có thể bảo lão là người đa cảm. Lão có rất ít bạn riêng, không vật nuôi trong nhà, lão cố tránh xa những kỳ nghỉ và những hội hè đàn đúm càng nhiều càng tốt. Chỉ có một lần cách đây nhiều năm lão “bị” dính vào một việc làm đầy lòng trắc ẩn khiến đám đồng nghiệp của lão tại Mỹ phải giật mình.
Khi cùng cậu bé Astorre từ Sicily trở về, Trùm Aprile nhận ra cô vợ yêu của mình đang chết dần chết mòn vì bệnh ung thư và ba đứa con của lão sắp lâm vào cảnh bơ vơ. Không muốn Astorre chứng kiến một hoàn cảnh như vậy, e rằng trong một chừng mực nào đó sẽ có hại cho cậu, lão quyết định gửi cậu cho một trong những cố vấn thân tín nhất, một kẻ có tên là Frank Viola, và vợ gã chăm sóc. Việc làm này hóa ra lại là một lựa chọn thiếu khôn ngoan. Lúc đó, Frank Viola đang co tham vọng kế vị lão. Nhưng chẳng bao lâu sau khi vợ lão chết, Astorre lúc này đã lên ba, lại trở thành một thành viên trong gia đình riêng của lão. “Cha” cậu đã tự sát trên thùng xa của gã, một tình huốn khác thường; và “mẹ” cậu cũng đã chết vì xuất huyết não. Lúc đến đón cậu về nhà Trùm Aprile phải giả đóng vai người bác.
Khi Astorre đủ lớn để bắt đầu hỏi về cha mẹ mình, Aprile bèn kể rằng cậu mồ côi. Nhưng Astorre là một đứa bé tò mò và kiên trì, vì thế, để chấm dứt những câu hỏi của cậu, lão nói cha mẹ cậu là nông dân, không đủ khả năng nuôi cậu, và họ đã chết vô danh tính tại một làng nhỏ ở Sicily. Aprile cũng biết lời giải thích này hoàn toàn không thỏa mãn cậu bé, và lão cảm giác được nỗi day dứt tội lỗi qua việc này, nhưng lão thừa hiểu khi Astorre còn nhỏ việc giữ kín gốc gác Mafia là quan trọng – cho sự an toàn của chính Astorre và cho sự an toàn của cả đám con cái lão.
Trùm Raymonde Aprile là người nhìn xa trông rộng và biết rằng thành công của lão không thể tiếp diễn mãi – đây là một thế giới đầy phản trắc. Ngay từ đầu lão đã có kế hoạch chuyển hướng để được an toàn trong một xã hội có tổ chức. Không hẳn lão thực sự nhận thức được mục đích của mình, nhưng những người vĩ đại có bản năng đoán biết tương lai luôn biết mình muốn gì. Và trong trường hợp này, thật vậy, lão đã hành động vì lòng trắc ẩn. Về phía Astorre, ở tuổi lên ba, không được gây ấn tượng, không được bóng gió cậu sẽ là một người như thế nào khi đã trưởng thành, hoặc cậu sẽ đóng một vai trò quan trọng ra sao trong gia đình.
Ông Trùm hiểu rằng vẻ hào nhoáng của nước Mỹ gắn liền với sự trỗi lên của các gia đình vĩ đại, và cái gia tầng xã hội tinh túy nhất ấy lại xuất thân từ những kẻ trước kia đã ít nhiều phạm phải những tội ác khủng khiếp chống lại chính cái giai tầng đó. Những kẻ như vậy trong lúc đi tìm vận may đã xây dựng nên nước Mỹ và để những việc làm xấu xa tan thành cát bụi lãng quên. Còn cách nào khác để làm việc đó không? Hay cứ giao Great Plains của nước Mỹ cho người da đỏ, những người không thể tưởng tượng ra nổi một chỗ ở có ba tầng? Hay hãy trả California cho người Mexico, những người không có khả năng kỹ thuật, không thấy được những máng nước khổng lồ dẫn nước về những cánh đồng cho phép hàng triệu người tận hưởng một cuộc sống thịnh vượng? Nước Mỹ có một vị thần hộ mệnh để thu hút hàng triệu người trên khắp thế giới, để dụ dỗ họ đến với những công việc cần thiét nhưng nặng nhọc: Làm đường xe lửa, xây đập nước và nhà chọc trời. Chà, tượng thần Tự Do quả là một áp phe quảng cáo thiên tài. Nó không có mặt ở đây cho những gì tốt nhất hay sao? Chắc chắn đã có những bi kịch, nhưng đó là một phần của cuộc sống. Chẳng lẽ Mỹ không phải là đất nước giàu mạnh nhất mà thế giới đã từng biết đến? Chẳng lẽ mức độ bất bình đẳng không phải là giá rẻ phải trả? đó luôn là tình huống mà mỗi cá nhân phải hy sinh để thúc đẩy tiến bộ của nền văn minh và hình thái xã hội đặc trưng của nó.
Tuy nhiên, có một định nghĩa khác về một con người vĩ đại. Điều chủ yếu là y không chấp nhận gánh nặng kia. Trong chừng mực nào đó, phạm tội, phi đạo đức, hay bằng sự khôn khéo, y sẽ chiếm lấy thành quả tiến bộ của nhân loại mà không cần hy sinh.
Raymonde Aprile là một người như vậy. Lão tạo ra quyền lực cá nhân của mình bằng trí thông minh và tính tàn nhẫn. Lão tạo ra nỗi khiếp sợ và rồi lão trở thành huyền thoại. Ấy thế mà con cái lão khi lớn lên vẫn chẳng hề tin vào những chuyện tồi tệ ấy.
Có một truyền thuyết về bước khởi đầu sự thống trị của lão với tư cách một sếp « gia đình ». Aprile lúc đó kiểm soát một công ty xây dựng được điều hành bởi tên đàn em, Tommy Liotti, kẻ đã được lão làm cho giàu có khi còn ít tuổi bởi những hợp đồng xây dựng thành phố. Gã này đẹp trai, dí dỏm, cực kỳ quyến rũ, và lão luôn hài lòng về công ty của gã . Gã chỉ có một tật : uống rượu quá mức.
Tommy cưới Liza, co bạn thân nhất của vợ lão, một phụ nữ có vẻ đẹp khỏe mạnh, lỗi mốt và chanh chua. Ả thấy mình có bổn phận phải kiềm chế những lạc thú của đức ông chồng, tất nhiên là những lạc thú của riêng gã. Việc này dẫn đến vài rắc rối đáng tiếc. Gã nhẫn nhịn những lời xuác phạm của vợ tương đối khá khi gã còn minh mẫn, nhưng khi đã xỉn là gã sẽ vả vào mặt ả, đủ để ả phải giữ mồm giữ miệng.
Việc gã chồng khỏe như vâm và phải làm việc nặng lâu năm tại các công trường xây dựng khi còn trẻ cũng là một điều xui xẻo nữa. Thật vậy, gã thường mặc sơ mi cộc tay để phô ra hai cánh tay săn chắc và cơ bắp cuồn cuộn.
Đáng buồn thay, những rắc rối cứ leo thang suốt hai năm. Một đêm Tommy đánh vỡ mũi Liza và làm gãy vài chiếc răng của ả. Việc đó đòi hỏi phải chi một khoản nặng tiền mông má. Ả đàn bà không dám nhờ vợ ông Trùm che chở, vì một yêu cầu như vậy hoàn toàn có thể biển ả trở thành quả phụ, mà ả thì vẫn còn yêu chồng mình.
Aprile không muốn can thiệp vào những ầm ĩ trong chuyện gia đình của thuộc hạ. Nó chẳng đi đến đâu cả. Thậm chí thằng chồng có giết con vợ lão cũng khỏi có gì phải lo. Nhưng những trận đòn đã gây ra dấu hiệu nguy hiểm cho quan hệ làm ăn của lão. Một mụ vợ phát khùng có thể nói năng lung tung, để lọt ra ngoài những thông tin tai hại. Thí dụ chuyện gã chồng luôn trữ một lượng tiền mặt lớn trong nhà dành cho những «chi phí » bất ngờ nhưng hét sức cần thiết cho việc thực hiện những hợp đồng xây dựng thành phố.
Vì vậy, Aprile cho gọi gã chồng. Với sự nhã nhặn hết mức lão nói rõ lão can thiệp vào cuộc sống riêng của gã chỉ vì chuyện đó ảnh hưởng đến việc làm ăn. Lão khuyên gã hoặc giết vợ ngay lập tức hoạc ly dị ả, hoặc không được ngược đãi ả nữa. Gã chồng bảo đảm với lão chuyện thượng cẳng chân hạ cẳng tay sẽ không tái diễn. Nhưng Aprile không tin. Lão đã nhận ra ánh mắt gã, ánh mắt của ý chí tự do. Lão coi việc một người cứ làm những gì mình thích mà không thèm quan tâm đến cái giá phải trả là một trong những sự khó hiểu lơn nhất trên đời. Kẻ quân tử liên kết bản thân mình với các thánh thần với cái giá khủng khiếp bằng chính bản thân họ. Kẻ tiểu nhân say mê với những bốc đồng nhỏ nhặt nhằm vào những thỏa mãn cỏn con trong khi chấp nhận số mệnh bị thiêu dưới hỏa ngục.
Và điều đó lại xảy ra với Tommy Liotti. Gần một năm sau Liza càng trở nên chua ngoa hơn trước. Bất chấp những lời cảnh báo của ông Trùm, bất chấp tình yêu gã vẫn dành cho vợ, Tommy nện ả một trận nhừ tử. Ả phải nằm viện với mớ xương sườn gãy và phổi bị tổn thương.
Nhờ giàu có và các mối liên kết chính trị Tommy đã mua được một trong những thẩm phán thoái hóa của ông Trùm với số tiền cực lớn. Sau đó gã thuyết phục vợ quay về với gã.
Aprile bực tức quan sát và hối tiếc bởi phải gánh chịu trách nhiệm. Trước tiên lão quan tâm đến những khía cạnh thực tế của vấn đề. Lão có được một bản copy di chúc của gã chồng và biết rằng, như một người chủ gia đình tử tế, gã để lại toàn bộ tài sản nơi trần thế cho vợ và các con mình. Cô ả sẽ trở thành một góa phụ giàu có. Thế rồi lão cử một đội đặc nhiệm với những chỉ dẫn đặc biệt lên đường. Trong vòng một tuần, tay thẩm phán nhận được một cái hộp dài quấn ruy băng. Trong hộp, giống như một đôi găng tay dài, đắt tiền bằng lụa đỏ, là hai cánh tay to tướng của gã chồng, một bên cổ tay đeo chiếc đồng hồ Rolex đắt tiền mà Aprile tặng gã nhiều năm trước, như một biểu hiện quý mến. Ngày hôm sau phần còn lại của thi thể được phát hiện đang dập dềnh trôi trong làn nước bên cầu Verrazano.
Một truyền thuyết khác cũng ớn lạnh bởi sự mập mờ của nó, như chuyện ma của trẻ nhỏ. Trong lúc các con của ông Trùm đang theo học trường nội trú, một anh chàng phóng viên táobạo và có tài, nổi danh về việc vạch trần nhược điểm của các nhân vật nổi tiếng bằng giọng văn hóm hỉnh, đã lần ra bọn trẻ và dụ chúng vào cái được xem như cuộc trao đổi bằng lời vô hại. Chàng phóng viên tếu táo cùng bọn trẻ, với vẻ ngay thơ của chúng. với áo quần đồng phục của chúng và với chủ nghĩa lý tưởng trẻ thơ của chúng về cách tạo dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Anh ta đối chiếu việc này với danh tiếng của cha chúng trong khi vẫn chấp nhận Trùm Aprile thực sự chưa từng bị kết tội.
Bài báo trở nên nổi tiếng, được lưu hành trong các phòng thông tin trên toàn quốc, thậm trí cả trước khi phát hành. đó là một loại thành công mà người cầm bút mơ ước. Ai cũng thích nó.
Chàng phóng viên là người yêu thiên nhiên. Năm nào anh ta cũng đưa vợ và hai con đến ngôi nhà nghỉ ở phía bắc New York để đi săn, câu cá hoặc để sống một cách giản đơn. Họ đã ở đó trong kỳ nghỉ cuối tuần có lẽ Tạ ơn dài lê thê. Vào ngày chủ nhật, ngôi nhà nghỉ, cách thị trấn gần nhất mười dặm, bốc cháy. Không có ứng cứu trong khoảng hai tiếng đồng hồ. Ngôi nhà đã cháy trụi còn chàng phóng viên cùng vợ con thì chỉ bị cháy xém. Một cuộc xuống đường rầm rộ nổ ra và một cuộc điều tra quy mô được tiến hành, nhưng không tìm được chứng cứ về hành động bạo lực dẫn tới sát nhân. Đoàn điều tra kết luận, cả nhà bị ngất xỉu vì khói trước khi có thể thoát ra ngoài.
Rồi một việc kỳ lạ xảy ra. Ít tháng sau thảm kịch trên những tiếng đồn bắt đầu lan truyền. Những tin tức nặc danh lọt vào cơ quan FBI, cảnh sát và báo chí. Tất cả đều cho rằng vụ cháy là hành động trả thù của tay Trùm Aprile bỉ ổi. Báo chí hâm nóng câu chuyện, kêu gọi mở lại phiên tòa. Phiên tòa được mở, nhưng một lần nữa lại không có chứng cứ. Thế là bất chấp mọi thử thách, vụ này trở thành truyền thuyết thứ hai về tính tàn bạo của Trùm Aprile.
Mặc cho dư luận phản đối, nhà chức trách đành phải hài lòng, bởi chẳng có gì bắt bẻ được lão. ai cũng biết các nhà báo được hưởng quyền bất khả xâm phạm. Hàng nghìn nhà báo cứ bị giết thì còn ra thể thống gì ? Trùm Aprile quá khôn ngoan để chấp nhận mạo hiểm như vậy. Song huyền thoại chẳng bao giờ chết. Một số nhân viên FBI thậm chí còn cho rằng chính lão đã góp phần tạo ra những đồn đại để hoàn thiện huyền thoại về lão. Và cứ thế nó lan ra.
Nhưng ở một khía cạnh khác Aprile là một người hào phóng. Nếu bạn phục vụ lão một cách trung thành bạn sẽ trở nên giàu có và nhận được sự che chở tuyệt vời mỗi khi bạn gặp khó khăn. Phần thưởng lão ban rất hậu hỹ, nhưng đòn trừng phạt thì bất di bất dịch. đó là huyền thoại về lão.
Sau lần gặp Portella và Cilke, Trùm Aprile phải sắp xếp lại một số việc. Lão cho đón Astorre về nhà sau mười một năm xa cách.
Lão cần Astorre, thực ra lão đã chuẩn bị cậu cho thời điểm này. Lão thậm chí yêu thương Astorre còn hơn con đẻ. Ngay khi còn nhỏ Astorre đã luôn là đứa cầm đầu, già dặn trong khả năng úng xử. Cậu yêu quý lão và không khiên slão phải lo lắng như đám con đẻ của lão vẫn thường làm. Và mặc dù Valerious và Marcantonio đã hai mươi và mười tám tuổi, trong khi Astorre mới lên mười, nhưng cậu vẫn thể hiện khả năng độc lập với các anh. Mỗi khi Valerious bắt nạt cậu đều bị cậu chống trả. Marcantonio trìu mến với cậu hơn và đã mua cho cậu cây đàn banjo đầu tiền để khuyến khích cậu ca hát.
Chỉ có một người Astorre nghe lời hơn cả, là Nicole. Hơn cậu hai tuổi, nàng đối xử với cậu như bạn bè đồng trang lứa trong lúc cậu vẫn chỉ muốn làm một chú nhóc. Nàng nhờ cậu làm những việc vặt và xúc động lắng nghe những bản ballads Italy cậu hát cho nàng. Và tát vào má cậu khi cậu cố hôn nàng. Ngay từ hồi còn nhỏ vẻ đẹp của phụ nữ luôn làm cậu thích thú.
Mà Nicole lại rất đẹp. Nàng có đôi mắt đen rộng mở và nụ cười đầy khêu gợi. Khuôn mặt biểu lộ từng trạng thái cảm xúc của nàng. Nàng thách thức bất kỳ kẻ nào dám cho rằng là phái yếu luôn thua kém và phải tuân thủ cánh nam nhi. Nàng căm ghét cái thực tế là về mặt thể lực nàng không khỏe như hai anh và Astorre, nàng không thể khẳng định ý chí của mình bằng sức mạnh mà chỉ bằng sắc đẹp. Tất cả những ấm ức kể trên làm nàng trở nên can đảm, và nàng giễu tất cả, kể cả cha mình, bất chấp cái danh tiếng dễ sợ của lão.
Sau cái chết của vợ, cá con khi đó hãy còn nhỏ dại Trùm Aprile quyết định đi nghỉ một tháng hè ở Sicily. Lão yêu cuộc sống quê nhà, gần thị trấn Montelepre. Ở đó lão vẫn còn sở hữu một bất dộng sản có tên là Villa Grazia, một chốn ẩn dật nơi thôn dã xa xưa của một bá tước.
Vài năm sau lão thuê một người trông nom Grazia. đó là một quả phụ Sicily tên là Caterina. Bà là một phụ nữ đĩnh đạc, khỏe mạnh, có vẻ đẹp của một nông dân no đủ và một khứu giác nhạy bén về quản lý cơ ngơi khiến dân làng phải trọng nể. Bà trở thành nhân tình của lão. Lão giấu nhẹm chuyện này với các con cũng như bè bạn mặc dù lúc đó lão đã ngũ tuần và là một ông vua trong thế giới của lão.
Lần đầu được cùng Raymonde Aprile tới Sicily, Astorre mới lên mười. Trước đó Aprile đã được đề nghị hòa giải gấp cuộc xung đột dữ dội giữa cosa nhà Corleone và cosa nhà Clericuzio. Lão khoái trá tận hưởng một tháng nghỉ ngơi thảnh thơi tại Villa Grazia.
Ở tuổi lên mười, Astorre là đứa dễ bắt chuyện. Cậu luôn vui vẻ. Khuôn mặt tròn đẹp của cậu cùng màu da ôliu toát lên tình thương yêu. Cậu luôn miệng hát với một giọng tenor ngọt ngào. Và khi thôi hát cậu lại đòi được cùng trò chuyện. Vì có tính cục cằn của một đứa trẻ mang dòng máu kẻ cướp, cậu bắt nạt tất cả bọn trẻ cùng trang lứa.
Aprile mang cậu tới Sicily vì cậu là chỗ bầu bạn tốt nhất đối với một người tuổi trung niên. Việc này xem ra rất lạ với cả hai cũng như với cách lão nuôi dạy ba đứa con đẻ của mình.
Khi giải quyết công việc, Aprile thường dùng cách hòa giải các tranh chấp để tạo ra một nền hòa bình tạm thời. Lúc này lão tận hưởng những ngày nghỉ ngơi để hồi tưởng thời thơ ấu tại nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Lão ăn chanh, cam và ô liu, lão làm những chuyến đi bách bộ dài cùng Astorre dưới ánh sáng âm u của mặt trời Sicily phản chiếu những ngôi nhà đá và những mỏm núi bất tận với cái nóng oi ả. Rất lâu rồi lão đã kể cho cậu bé nghe những câu chuyện cổ về các chàng Robin Hood xứ Sicily, cuộc đấu tranh của họ chống lại người Moor, người Pháp, người Tây Ban Nhà và cả Đức Giáo Hoàng. Cả những truyền thuyết về người anh hùng nơi đây, ông Trùm Zero Vĩ Đại.
Ban đêm, ngoài thềm Villa Grazia, hai người cùng ngắm nhìn bầu trời Sicily trong xanh với hàng ngàn ngôi sao lấp lánh và những tia chớp phóng qua những dãy núi cách đó không xa. Astorre nhanh chóng học được thổ ngữ Sicily và ăn ôliu đen cứ như thể chúng là kẹo vậy.
Chỉ cần vài ngày Astorre đã thiết lập được quyền thủ lĩnh của mình lên đám trẻ trong làng. Với Aprile, đó quả là một điều kỳ diệu vì trẻ con Sicily vốn đầy lòng tự trọng chẳng dễ nể vì ai. Nhiều tiểu thiên thần mười tuổi trong số đó đã thành thạo Lupara, một loại súng Sicily từng vang danh một thuở.
Aprile, Astorre và Caterina dành những đêm hè cho việc ăn uống ngoài trời trong khu vườn um tùm sạch sẽ. Những cây cam, cây chanh tỏa vào không gian mùi hương thơm ngát. thỉnh thoảng đám bạn thiếu thời của lão được mời tới ăn tối hay chơi bài. Astorre giúp Caterina tiếp rượu họ.
Caterina và ông Trùm không khi nào để lộ tình cảm của mình trước mặt mọi người, nhưng cả làng đều biết tỏng nên chẳng ai dại gì ve vãn Caterina. Họ chỉ bày tỏ lòng kính trọng mà nữ chủ nhân của tòa nhà cần được hưởng. Chưa bao giờ trong đời ông Trùm Aprile vui như vậy.
Thể rồi chỉ ba ngày trước khi chuyến viếng thăm kết thúc, một chuyện động trời đã xảy ra: Trùm Aprile bị bắt cóc khi đang đi dạo trên đường làng.
Tại tỉnh bên, Cinesi, một trong những tỉnh hẻo lánh nhất và kém phát triển nhất Sicily, thủ lĩnh cosca, một Mafioso địa phương, một kẻ hung bạo và tàn nhẫn có tên là Fissolini. Thâu tóm quyền lực trong vùng nhưng y lại không nắm được thông tin về các cosca còn lại trên đảo. Y không biết tí gì về quyền lực ghê gớm của Trùm Aprile và cũng không ngờ sự việc lại có thể vượt ra khỏi cái thế giới xa xôi, an toàn y đang ngự trị. Y quyết định bắt cóc ông Trùm Aprile để đòi tiền chuộc. Cái điều luật duy nhất mà y biết mình phạm phải là đang xâm lấn lãnh địa của cosca láng giềng, nhưng lão người Mỹ xem ra đủ giàu để thử liều một quả.
Cosca là đơn vị cơ sở của tổ chức mang tên Mafia và thường bao gồm những người cùng huyết thống. Những công dân danh giá như luật sư hay bác sĩ bám vào cosca để bảo vệ lợi ích của họ. Mỗi cosca là một tổ chức phức tạp nhưng có thể liên minh với các cosca mạnh hơn. Mối liên kết đó được gọi chung là Mafia. Tuy nhiên ở đây không có thủ lĩnh hay chỉ huy tổng thể. Mỗi cosca thường tham gia một lĩnh vực làm ăn riêng trên lãnh thổ riêng của nó. Có cosca kiểm soát giá nước và ngăn cản chính phủ xây dựng các đập nước nhằm làm hạ giá thành. Bằng cách đó nó chống lại độc quyền của chính phủ. Có cosca kiểm soát thị trường lương thực thực phẩm. Những cosca hùng mạnh nhất Sicily lúc này là cosca Clericuzio ở Palermo - kiểm soát công cuộc xây dựng trên toàn Sicily, và cosca của Corleone kiểm soát các chính khách ở Roma và sắp đặt việc vận chuyển ma túy trên toàn thế giới. cũng có những cosca vớ vẩn chỉ bắt đám thanh niên ngon mắt đáp lễ bằng cách hát cho đám bồ bịch của chúng nghe. Tất cả các cosca đều dính dáng đến tội ác. Chúng không dung thứ bất kỳ một kẻ vô tịch sự lười biếng nào dám chôm chỉa những gia đình trong sạch - những người nộp đầy đủ lệ phí cho cosca của chúng. Những tên móc túi hay hãm hiếp phụ nữ tức khắc bị hành quyết. Ngay trong các cosca, tội ngoại tình cũng không được dung thứ. Cả đàn ông và đàn bà đều bị xử tử. Điều đó ai cũng hiểu.
Cosca của Fissolini có thu nhập thấp. Nó kiểm soát việc buôn bán tranh thánh, được trả tiền để lo việc bảo vệ gia súc và tốt chức bắt cóc đám nhà giàu bất cẩn.
Thế là trong khi đang ung dung tả bộ trên đường làng, Trùm Aprile và cậu bé Astorre bị thằng ăn cướp hạng bét Fissolini cùng đàn em tống lên hai chiếc xe quân dụng Mỹ.
Mười gã đàn ông mặc áo quần nông dân, vũ trang bằng súng trường. Chúng nhấc Trùm Aprile khỏi mặt đất rồi ném lão lên chiếc xe thứ nhất. Astorre không do dự nhảy lên xe cùng lão. Lũ cướp cố kéo cậu ra nhưng cậu bám rất chặt. Hai chiếc xe chạy khoảng một tiếng đồng hồ thì tới một căn cứ trên những dãy núi bao quanh Montelepre. Sau đó cả bọn lại lên ngựa và lừa men theo triền núi đi về phía chân trời. Suốt cuộc hành trình, cậu bé quan sát mọi vật với cập mắt xanh mở to nhưng không một lần mở miệng.
Gần hoàng hôn, họ tới một cái hang nằm sâu trong núi. Ở đó họ được ăn thịt cừu nướng, bánh mỳ và rượu nhà làm. Tại nơi hạ trại có bức tượng bán thân cỡ lớn của Đức Mẹ Đồng Trinh đặt trong cái hòm đựng thánh cốt bằng gỗ màu đen được chạm trổ bằng tay. Bất chấp tính tàn ác của mình, Fissolini vẫn là một kẻ sùng đạo. Y có vẻ lịch sự chất phác của một nông dân. Y tự giới thiệu tên với Trùm Aprile và cậu bé. Không nghi ngờ gì, y là thủ lĩnh của băng cướp. Y lùn mà khỏe như vâm. Bên hông y lủng lẳng khẩu súng trường và hai khẩu súng lục. Mặt y chai lỳ như miền đất Sicily nhưng trong mắt y ánh lên vẻ phóng khoáng. Y yêu đời và khoái những chuyện khôi hài, đặc biệt là lúc này y đang giữ trong tay một người Mỹ giàu có mà trọng lượng được quy ra vàng. Và đang thưởng thức nó.
- Thưa quý ngài, y nói với ông Trùm. Tôi không muốn ngài phải lo lắng về cậu bé này. Sáng mai cậu ấy sẽ mang thư đòi tiền chuộc vào thành phố.
Astorre đang ăn uống ngon lành. Cậu chưa từng được nếm món nào ngon như món thịt cừu nướng này. Cậu ngừng nhai và can đảm lên tiếng
- Tôi sẽ ở lại với bác Raymonde của tôi.
Fissolini phá lên cười
- Thức ăn ngon mang lại lòng can đảm. Để tỏ lòng tôn kính của tôi đối với quý ngài đây, tôi đã tự tay nấu ăn đấy. Tôi còn dùng đến cả gia vị của mẹ tôi nữa.
- Tôi sẽ ở lại với bác tôi, Astorre nói, giọng cậu vang lên rõ ràng, thách thức.
Trùm Aprile nói với Fissolini một cách nghiêm nghị nhưng thân mật
- Thật là một đêm tuyệt diệu - Thức ăn, không khí trong lành, bè bạn của ngài. Tôi mong đợi làn sương tinh khôi nơi thôn dã. Tuy nhiên tôi khuyên ngài nên đưa tôi về lại nhà.
Fissolini kính cẩn cúi đầu về phía lão.
- Tôi biết ngài giàu có. Vậy ngài có thế lực đằng sau không? Tôi chỉ yêu cầu một trăm ngàn đô la Mỹ thôi.
- Việc đó xúc phạm tôi, lão nói. Ngài sẽ làm tổn thương thanh danh của tôi. Cứ gấp đôi lên. Và năm mươi ngàn nữa cho thằng bé. Tiền sẽ được trả. Nhưng rồi cuộc sống của ngài sẽ vĩnh viễn khốn nạn. Lão dừng lại một lát, tôi ngạc nhiên khi thấy ngài liều đến thế.
Fissolini thở dài.
- Mong ngài hiểu cho, thưa quý ngài, tôi là một người nghèo. Thực ra tôi có thể lấy bất kỳ những gì tôi muốn trong lãnh địa này, nhưng Sicily là miền đất đáng nguyền rủa đến nỗi những kẻ giàu có cũng lại quá nghèo để giúp đỡ loại người như tôi. Ngài phải hiểu rằng ngài đang là cơ hội để tôi gỡ gạc chút đỉnh.
- Thế thì lẽ ra ngài phải đến chỗ tôi để yêu cầu giao việc cho ngài chứ, Aprile nói. Tôi luôn luôn trọng dụng nhân tài.
- Ngài nói thế vì lúc này ngài là kẻ yếu và đang không được giúp đỡ đấy thôi, Fissolini nói. Kẻ yếu lúc nào chả hào phóng. Nhưng tôi sẽ làm theo lời khuyên của ngài mà yêu cầu gấp đôi. Dù sao tôi cũng cảm thấy có chút tội lỗi trong chuyện này. Không ai có giá cao như vậy cả? Tôi sẽ để cậu bé tự do ra đi. Tôi dễ mủi lòng trước lũ trẻ. Tôi có bốn đứa con, tôi phải lo cho những cái tàu há mồm ấy.
Aprile nhìn Astorre
- Cháu sẽ đi chứ?
- Không, cậu đáp, đàu cúi thấp. Cháu muốn ở lại với bác. Cậu mở to mắt nhìn thẳng vào Aprile.
- Vậy thì cứ để nó ở lại, Lão nói với băng cướp.
Fissolini lắc đầu.
- Nó sẽ quay về. Tôi giữ lời mà. Tôi sẽ không bị mang tiếng là một kẻ bắt cóc trẻ con. Bởi rốt cuộc thì, thưa quý ngài, dù cho tôi có được hết sức trọng vọng, tôi vẫn phải gửi ngài về nhà từng mẩu một nếu người ta không trả tiền chuộc. Còn nếu tiền được trả, tôi xin thề với ngài lời thề danh dự của Pietro Fissolini, không một sợi râu nào của ngài bị đụng đến.
- Tiền sẽ được trả, Trùm Aprile bình tĩnh nói. Còn bây giờ hãy để chúng tôi được làm điều tốt nhất. Này cháu, hãy hát một bài cho các quý ông đây nghe đi.
Astorre hát cho đám cướp nghe. Chúng rất khoái và khen ngợi cậu bằng cách làm rối tung mớ tóc của cậu một cách trìu mến. Quả thật, đây là một khoảnh khắc kỳ diệu đối với tất cả bọn chúng. Giọng ca ngọt ngào của cậu bé cùng những bản tình ca lấp đầy cả vùng sơn cước.
Lát sau mền và túi ngủ được mang từ hang bên cạnh tới. Fissolini hỏi
- Thưa quý ngài, ngài muốn dùng món gì vào bữa sáng mai? Một ít cá tươi vừa đánh nhé? Rồi thì mì ống và thịt bê cho bữa trưa chứ? chúng tôi xin được phục vụ ngài.
- Xin cảm ơn ngài, Aprile nói, một ít phó mát và trái cây là đủ rồi.
- Chúc ngài ngủ ngon, Fissolini nói. Cái nhìn buồn bã của cậu bé làm y mủi lòng, y vỗ nhẹ đầu cậu.
- Ngày mai cậu sẽ được ngủ ngay trên giường của cậu thôi.
Astorre nhắm mắt để ngủ ngay trên mặt đất cạnh Aprile.
- Nằm cạnh ta nào, lão nói rồi vòng tay ôm lấy cậu.
Astorre ngủ say đến nỗi khi những tiếng lách cách làm cậu thức dậy thì vầng dương đỏ ối đã lên cao quá đầu. Cậu ngồi dậy và thấy khoảng năm chục người đàn ông có vũ trang đã đứng đầy trong hang. Trùm Aprile nhã nhặn, bình thản và đường hoàng đang ngồi trên một phiến đá lớn nhấm nháp tách cà phê.
Lão nhìn thấy Astorre và vẫy tay ra hiệu
- Astorre, cháu có muốn uống cà phê không? Lão chỉ tay vào người đàn ông đứng trước mặt
- Đây là người bạn tốt của bác, Bianco, chú ấy đã cứu bác cháu mình.
Astorre thấy một gã khổng lồ, dù được bọc kín trong lớp mở, mặc comple, đeo cà vạt và hình như không mang súng vẫn đáng sợ hơn nhiều so với Fissolini. Lão có mái tóc quăn và trắng, cặp mắt to vằn đỏ, và lão toát ra uy quyền. Nhưng lão có vẻ muốn che giấu uy quyền của mình khi nói bằng một giọng nhẹ nhàng và nghiêm trang.
Octavio Bianco nói
- Thưa Don Aprile, tôi phải xin lỗi vì đã tới trễ để ngài phải ngủ như một nông dân trên mặt đất thế này. Nhưng tôi đã lên đường ngay sau khi nhận được tin báo. Tôi vẫn biết Fissolini là một thằng ngu, nhưng tôi không ngờ nó dám làm việc này.
Có tiếng búa vang lên và có vài người bước ra khỏi tầm nhìn của Astorre. Cậu thấy hai thanh niên đang đóng một cây thập tự. Dần dần, vì nằm ở góc xa của nền hang, cậu thấy Fissolini cùng mười tên cướp bị trói gô trên mặt đất và bị buộc vào những thân cây. Chúng bị bó chặt trong một tấm mạng bằng cả dây điện lẫn dây thừng, chân tay quấn với nhau. Trong chúng giống một đàn ruồi bu trên tảng thịt.
Bianco cất tiếng hỏi
- Don Aprile, đứa nào trong đám súc sinh này ngài muốn xử trước?
- Fissolini, Ông Trùm nói. Nó là đứa cầm đầu.
Bianco kéo lê Fissolini đến trước mặt Aprile, y vẫn bị bó chặt như một xác ướp. Bianco và một tay súng của lão xốc y lên và bắt y phải đứng. Xong đâu đấy Bianco quát
- Fissolini, sao mày có thể ngu đến như vậy hả? Mày không biết ngài đây đang được tao bảo vệ à, nếu không thì chính tao đã bắt cóc ngài ấy rồi, đâu đến mày? Hay mày nghĩ mày chỉ vay một chai dầu, tí dấm? Đã bao giờ tao xâm phạm lãnh địa của mày chưa? Thế mà mày lại luôn cứng đầu, và tao biết mày sẽ toi mà. Được, giống như Chúa, mày phải bị treo lên cây thánh giá. Hãy xin lỗi Don Aprile và thằng cháu của ông ấy. Tao sẽ ban cho mày một ân huệ là bắn mày trước khi tụi tao đóng đinh.
- Đúng thế, Aprile bảo Fissolini. Hãy giải thích sự vô lễ của ngài.
Fissolini đứng thẳng và ngạo nghễ.
- Nhưng sự vô lễ không phải nhằm vào cá nhân ngài, thưa quý ngài. Tôi đâu có biết ngài là người quan trọng và thân thiết với các bạn tôi. Cái thằng Bianco này lẽ ra đã có thể thông báo cho tôi đầy đủ chứ. Thưa quý ngài, tôi đã phạm sai lầm thì tôi phải trả giá. Y dừng lại một lát rồi thét vào mặt Bianco một cách giận dữ và khinh miệt
- Bảo những thằng kia ngừng đóng đinh lại. Tao điếc tai mất. còn mày không thể làm tao sợ chết trước khi giết tao đâu. Fissolini lại quay sang Aprile, Cứ xử tôi, nhưng xin hãy tha cho người của tôi, chúng chỉ làm theo lệnh thôi. Chúng có gia đình. Ngài sẽ hủy hoại cả làng nếu ngài giết chúng.
- Thì chúng là những đứa có trách nhiệm đấy chứ, Aprile mỉa mai nói. Ta sẽ làm mếch lòng chúng nếu chúng không chịu chung số phận với ngài.
Đến lúc này Astorre, dù đầu óc còn non nớt, cũng hiểu ra rằng người ta đang nói về sự sống và cái chết. Cậu thì thầm
- Bác ơi, đừng làm đau ông ấy. Aprile không phản ứng gì về những điều đã nghe.
- Cứ tiếp đi, lão nhắc Fissolini.
Fissolini ném vào lão cái nhìn dò hỏi, vừa ngạo mạn vừa cảnh giác.
- Tôi không cầu xin tha mạng cho tôi. Nhưng mười người đang nằm đây đều là máu mủ ruột ra của gia đình tôi. Ngài giết chúng là giết luôn vợ con chúng. Ba trong số đó là con rể tôi. Chúng hoàn toàn trung thành với tôi. Chúng tin vào ý kiến của tôi. Nếu ngài để chúng đi, tôi sẽ bắt chúng thề trung thành vĩnh viễn với ngài trước khi tôi chết. Chúng sẽ nghe lời tôi. Có mười người bạn trung thành quả là có ý nghĩa. Người ta nói với tôi ngài là một người cao quý, nhưng ngài không thể là một người cao quý nếu không tỏ ra rộng lượng. Ngài không thể cố tỏ ra rộng lượng được, nhưng chỉ xin ngài một lần này. Y mỉm cười với Astorre.

Với Trùm Raymonde Aprile đây là một thời điểm quen thuộc, và lão không hề nghi ngờ quyết định của mình. Lão chẳng bao giờ tin vào sức nặng của lòng biết ơn. Lão tin chẳng có ma nào có thể điều khiển được ý chí tự do trong mỗi con người ngoại trừ cái chết. Lão xem Fissolini là kẻ lạnh lùng và lão lắc đầu. Bianco tiến lên phía trước.

Astorre bước về phía bác cậu và nhìn thẳng vào mắt lão. Cậu đã hiểu mọi chuyện. Cậu sẵn sàng bênh vực Fissolini.
- Ông ấy không làm bác cháu mình đau, Astorre nói. Ông ấy chỉ muốn tiền của chúng ta thôi.
Ông Trùm mỉm cười rồi nói
Và điều đó chẳng là gì chứ?
Astorre đáp,
- Nhưng đó là một lý do tốt. Ông ấy cần tiền để nuôi gia đình. Và cháu quý ông ấy. Làm ơn đi bác.
Trùm Aprile mỉm cười với cậu và nói
- Hoan hô. Rồi lão im lặng hồi lâu làm như không biết Astorre đang giật mạnh tay mình. Và, lần đầu tiên trong nhiều năm lão cảm thấy phải thể hiện lòng nhân từ.

Người của Bianco đốt những điếu xì gà nhỏ, rất nặng. Khói xì gà bay lên không trung lúc bình minh rồi được làn gió nhẹ mang theo vào trong núi. Một gã trong đám người bước lên lấy từ trong chiếc túi đi săn một điếu xì gà mới mời Aprile. Bằng hiểu biết trẻ thơ Astorre cũng hiểu rằng đó không chỉ là thái độ lịch sự mà còn là cách bày tỏ lòng kính trọng. Ông Trùm cầm điếu xì gà, còn người kia châm lửa cho lão trong hai lòng bàn tay khum lại. Ông trùm chậm rãi rít điếu thuốc rồi nói

- Ta không muốn làm nhục ngài bằng việc tỏ lòng nhân từ. Nhưng ta sẽ yêu cầu ngài một thỏa thuận làm ăn. Ta nhận ra ngài không ác tâm và ngài đã thể hiện lòng kính trọng cao cả đối với ta và cháu ta. Vì vậy đây chính là thỏa thuận. Ngài sống. Người của ngài cũng sống. Nhưng trong quãng đời còn lại của ngài, ngài phải nghe theo lệnh ta.
Astorre cảm thấy cực kỳ nhẹ nhõm, và cậu mỉm cười với Fissolini. Cậu quan sát thấy Fissolini quỳ xuống rồi hôn tay Trùm Aprile. Cậu nhận ra rằng những người đàn ông vũ trang ở xung quanh rít thuốc dữ dội, và cả Bianco uy nghi như một quả núi cũng run lên vì vui mừng.

Fissolini lẩm bẩm,
- Đội ơn ngài, thưa quý ngài.
Ông Trùm ném điếu xì gà xuống một tảng đá gần đấy.
- Ta nhận lời cảm tạ của ngài, nhưng ngài phải hiểu rằng Bianco đến đây để bảo vệ ta và ngài cũng sẽ làm công việc này. Ta trả Bianco một khoản tiền, mỗi năm ta cũng sẽ trả ngài từng nấy. Nhưng chỉ cần một hành động phản bội thôi, cả ngài và thế giới của ngài sẽ bị hủy diệt. Ngài, vợ ngài, các con của ngài, các cháu của ngài, các con rể của ngài sẽ chấm dứt cuộc sống.
Fissolini đứng lên ôm lấy lão và òa khóc.

Thế rồi ông Trùm và đứa cháu trở nên gắn bó hơn. Lão yêu cậu vì cậu đã thuyết phục lão mở lòng nhân ái, còn Astorre yêu lão vì lão đã nghe lời cậu mà tha mạng cho Fissolini và mười người của y. Mối quan hệ này kéo dài cho đến cuối đời.
Đêm cuối cùng tại Villa Grazia, Trùm Aprile ngồi uống cà phê trong vườn còn Astorre ăn trái ô liu lấy từ thùng chứa. Astorre rất trầm tư, không giống với tính tình cởi mở thường ngày của cậu.
- Cháu có buồn vì phải rời Sicily không? Lão hỏi.
- Cháu ước gì được sống mãi ở đây, Astorre trả lời. Cậu nhét hạt ôliu vào túi.
- Thôi được, bác cháu ta hè nào cũng sẽ đến đây. Lão nói.
Astorre nhìn lão như nhìn một người bạn già thông thái, khuôn mặt trẻ trung của cậu đượm vẻ lo lắng.
- Bà Caterina có phải là bạn gái của bác không?
Aprile phì cười
- Bà ấy là bạn tốt của bác.
Astorre nghĩ ngợi. Thế các anh chị cháu có biết bà ấy không?
- Không, các con bác không biết. Một lần nữa lão bị cậu làm cho kinh ngạc và lão tự hỏi còn chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.
Astorre lúc này rất nghiêm trang,
- Các anh chị cháu có biết bác có những người bạn dữ dằn như Bianco sẵn sàng làm mọi cái bác bảo họ phải làm hay không?
- Không.
- Cháu cũng sẽ không nói với các anh chị ấy bất cứ điều gì, kể cả việc bị bắt cóc.
Ông Trùm cảm thấy lòng tự hào trào dâng. Ometa đã ngấm vào máu nó rồi
Khuya đêm hôm đó, một mình, Astorre đi đến góc xa của khu vườn. Với đôi bàn tay trần cậu đào một cái hố. Cậu thả vào đó những hạt ô liu đã kín đáo bỏ trong túi. Cậu ngước mắt nhìn lên bầu trời Sicily xanh nhợt và mơ thấy mình là một người già giống như bác cậu, vào một đêm tương tự, đang ngồi trong khu vườn này nhìn những cây ô liu này vươn cao.
Sau vụ đó, ông Trùm tin mọi cái đều có số. Cho đến khi Astorre mười sáu tuổi, năm nào lão và cậu cũng đến Sicily. Trong ký ức lão một hình ảnh đang hình thành – nét phác thảo lờ mờ về định mệnh của Astorre.
Người gây ra khủng hoảng đẩy Astorre vào định mệnh đó là con gái lão. Ở tuổi mười tám, hơn Astorre hai tuổi, Nicole phải lòng cậu. Với tính tình bốc lửa của mình, nàng khó mà giấu được sự thật. Nàng hoàn toàn lấn át chàng trai đa cảm. Với tất cả sự mãnh liệt nồng nàn của tuổi trẻ họ trở nên thân thiết.
Ông Trùm không thể cho phép tồn tại một câu chuyện như vậy, nhưng là một vị tướng lão phải điều chỉnh chiến thuật sao cho phù hợp với địa hình, địa vật. Lão chẳng khi nào bóng gió về những gì lão biết trong chuyện này.
Một đêm lão gọi Astorre vào phòng riêng và cho biết lão sẽ gửi cậu sang Anh học nghề trong lĩnh vực ngân hàng vời một ông Pryor nào đó ở Luân Đôn. Lão không đưa ra thêm lý do nào khác sợ rằng cậu sẽ nhận thấy mình bị tống khứ khỏi nhà để chấm dứt vụ việc. Có điều lão không để ý đến con gái mình đang lắng nghe bên ngoài cánh cửa. Nàng ào vào phòng như một cơn bão, sự giận dữ càng làm nàng đẹp hơn.
- Ba không được đưa anh ấy đi khỏi đây, nàng hét lên. Chúng con sẽ rời khỏi nhà này.
Lão tủm tỉm cười và lên giọng dỗ dành
- Cả hai con đều phải học hành cho xong đã.
Nicole quay sang Astorre lúc này đang đỏ mặt vì bối rối.
- Astorre, anh sẽ không đi chứ? Nàng hỏi, Phải vậy không?
Astorre không trả lời, và Nicole òa khóc.


(còn nữa)
 
Sửa lần cuối:
letmyha

letmyha

Hư không
18/5/04
826
6
0
37
The land of the living
#3
Luật im lặng

Chương 2 (cont.)

Làm cha thật khó mà không động lòng trước cảnh này. Nhưng lão thì khoái lắm. Con gái lão bảnh quá, một Mafioso chính cống có giác quang già dặn, một báu vật thật sự. Bất chấp điều đó, hàng tuần liền nàng từ chối tiếp chuyện cha và giam mình trong phòng. Nhưng ông Trùm đâu có ngán, con gái lão đâu phải loại người có thể tan nát cõi lòng mãi vì một thằng đàn ông được.

Chứng kiến Astorre dính vào rắc rối của đám choai choai đang trưởng thành càng làm lão khoái hơn. Đúng là nó yêu Nicole. Và đúng là tình cảm nồng nàn, mãnh liệt của con bé đã làm nó thấy mình là một người quan trọng trên đời. Có thằng đàn ông nào lại không bị quyến rũ bởi được quan tâm đặc biệt như vậy chứ. Nhưng lão cũng hiểu rằng Astorre cần một lý do để thoát khỏi mọi vướng víu trong cuộc hành trình đến với những vinh quang của cuộc sống. Lão mỉm cười. Thằng bé có tất cả những bản năng thích hợp và đã đến lúc nó phải học hành tử tế rồi.

Giờ đây, sau ba năm nghỉ ngơi, Raymonde Aprile đã cảm nhận được sự an tâm, thỏa mãn của một người có những lựa chọn đúng trong đời Aprile an tâm tới mức lão bắt đầu phát triển một mối quan hệ gần gũi hơn với mấy đứa con. Cuối cùng thì, ở một mức độ nào đó, lão đang được hưởng thành quả của tình phụ tử.
Valerious đóng quân ở nước ngoài hầu như toàn bộ hai mươi năm qua nên chưa khi nào gần gũi với lão. Bây giờ gã về West Point nên hai cha con thường gặp nhau hơn và đã bắt đầu trò chuyện cởi mở hơn. Tuy nhiên, cũng chẳng dễ dàng gì.

Với Marcantonio thì khác. Lão và thằng con thứ hai có một vài điểm chung. Marcantonio giải thích công việc của mình trong chương trình truyền hình, sự phấn khích của gã qua các diễn biến đầy kịch tính, trách nhiệm đối với khán giả, khát vọng muốn làm thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Cuộc sống của những người như thế giống như những câu chuyện thần tiên đối với lão và lão bị chúng quyến rũ.

Trong những bữa tối của gia đình, Marcantonio và lão có thể tranh cãi một cách thân tình cho những người khác giải trí. Một lần lão bảo Marcantonio,
- Ba chưa từng thấy những người quá tốt hay quá xấu như những nhân vật trong những vở kịch đó đâu.
Marcantonio trả lời,
- Đó là cái mà khán giả tin. Chúng ta phải mang những gì khán giả tin lại cho họ.
Tại một buổi gặp mặt gia đình, Valerious cố giải thích tính hợp lý đối với cuộc chiến vùng Vịnh. Ngoài bảo vệ những lợi ích kinh tế quan trọng và quyền con người, cuộc chiến tranh này còn là một cơ hội làm ăn béo bở cho mạng lưới truyền hình của Marcantonio. Vậy mà Aprile chỉ nhún vai. Các cuộc xung đột chẳng làm lão quan tâm.
- Nói ba nghe, lão bảo Valerious. Bằng cách nào các quốc gia thực sự thắng trận? Cái gì là nhân tố quyết định hả?
Valerious cân nhắc.

- Phải có quân đội được huấn luyện tốt, tướng tài. Đánh nhau có bên được, bên thua. Khi còn làm bên tình báo, chúng con phân tích mọi thứ và đi đến kết luận: Nước nào sản xuất nhiều thép nhất sẽ thắng trong cuộc chiến, vậy thôi.
Ông Trùm gật đầu hài lòng.
Quan hệ giữa láo với Nicole là ấm áp và mãnh liệt nhất. Lão tự hào về tài năng, vẻ đẹp tự nhiên, tính tình sôi nổi và trí thông minh của nàng. Quả thực. Mới ba hai tuổi đời nàng đã là một luật sư đầy triển vọng.
Lão đã bí mật giúp đỡ con gái, hãng luật của nó nợ lão chồng chất. Các anh thì lo lắng cho em gái ở hai nguyên nhân: Nàng chưa lập gia đình và làm nhiều việc từ thiện. Mặc dù thán phục, lão vẫn không coi trọng con gái lắm. Nó rốt cuộc vẫn chỉ là đàn bà. Mà đàn bà chính là mọi rắc rối của đàn ông.
Trong các bữa tối lão và con gái tranh cãi không ngừng như hai con mèo đang nô đùa một cách nguy hiểm, đôi khi có đổ máu. Họ có một vấn đề tranh cãi khá gay gắt, cái duy nhất có thể ảnh hưởng đến tính nhã nhặn bát biến của lão. Nicole tin vào yếu tố thánh thiện trong cuộc sống con người, còn hình phạt tử hình là một điều ghê tởm. Nàng tổ chức và lãnh đạo Phong Trào Chống Án Tử Hình.
- Tại sao? Lão hỏi.

Thế là Nicole lại tức điên lên. Nàng tin rằng hình phạt tử hình cuối cùng sẽ hủy diệt nhân loại. Tội sát nhân trong bất kỳ hoàn cảnh nào vẫn có thể được minh chứng bởi những góc độ hoàn cảnh khác, góc độ niềm tin khác nếu nó được tha thứ. Rốt cuộc thì khung hình phạt chết người này cũng chẳng giúp gì cho quá trình tiến hóa và nền văn minh. Niềm tin đó đẩy nàng đến chỗ xung khắc liên miên với Valerious. Xét cho cùng, quân đội đã làm được quái gì nào? Các lý do không thuyết phục được nàng. Sát nhân là sát nhân, nó sẽ đưa tất cả chúng ta sẽ tới chỗ ăn thịt lẫn nhau, thậm chí còn tệ hại hơn. Nicole đấu tranh tại các phiên tòa trên khắp đất nước để cứu những kẻ giết người đã bị kết án. Dù coi việc này là vô nghĩa nhất, ông Trùm vẫn đề nghị nâng cốc chúc mừng tại bữa tối diễn ra sau chiến thắng của con gái trong một vụ kiện nổi tiếng. Nàng đã giành được việc giảm án tử hình cho một trong số những tên tội phạm khét tiếng nhất thập kỷ, một gã đàn ông đã giết người bạn thân nhất của y và cưỡng hiếp người vị bị y làm cho thành quả phụ. Trên đường đào tẩu y hạ tiếp hai nhân viên trạm xăng khi chặn cướp của họ. Y tiếp tục hiếm dâm và giết chết một cháu bé mười tuổi. Việc làm của y chỉ vỡ lở khi y âm mưu giết hai cảnh sát trong phiên tuần tra. Nicole đã thắng kiện vì chứng minh được y là một người điên, và vì bảo đảm rằng y sẽ phải sống nốt quãng đời còn lại trong một nhà thương dành cho phạm nhân tâm thần mà không có hy vọng được phóng thích.
Bữa tối tiếp theo của gia đình là lễ ăn mừng Nicole lại thắng một vụ kiện khác - lần này là của chính nàng. Trong một phiên xử gần đây nàng đã bênh vực cho một đối tượng cực kỳ nguy hiểm. Rồi nàng bị đưa ra trước Hội đồng lập pháp vì tội hành nghề phi đạo đức song, may mắn thoát. Lúc này nàng đang phấn khởi lắm.

Ông Trùm, bộ dạng tươi tỉnh, thể hiện sự quan tâm không bình thường đến vụ kiện này. Lão chúc mừng con gái được trắng án nhưng lại hơi lẫn lộn, hoặc giả vờ lẫn lộn. Nicole phải giải thích cho lão.
Nàng đã biện hộc ho một gã tuổi ba mươi. Y cưỡng hiếp và giết chết một bé gái mười hai tuổi rồi giấu xác cô bé kín đến nỗi cảnh sát cũng không tìm ra. Chứng cứ buộc tội chống lại y khá mạnh, tuy thiếu tử thi, song bồi thẩm đoàn, dù miễn cưỡng, vẫn có thể khép y vào án tử hình. Cha mẹ nạn nhân vô cùng đau khổ trong một nỗ lực không thành tìm xác con.
Kẻ sát nhân tin cẩn thổ lộ với Nicole, trong tư cách là người đại diện của y trước tòa, nơi chôn giấu xác nạn nhân và ủy quyền cho nàng thương lượng một thỏa thuận – y sẽ tiết lộ nơi giấu xác cô bé để đổi lấy bản án chung thân thay cho tử hình. Tuy nhiên , khi Nicole mở cuộc thương lượng với bên nguyên, chính nàng phải đối mặt với nguy cơ bị truy tố nếu không tiết lộ ngay cái nơi giấu xác đó. Nàng tin rằng việc bảo vệ bí mật giữa luật sư và khách hàng rất quan trọng đối với xã hội. Vì thế nàng đã từ chối, và một vị chánh án nổi tiếng đã tuyên bố nàng đúng.
Ủy viên công tố, sau khi tham khảo ý kiến cha mẹ nạn nhân, đã chấp nhận thỏa thuận.
Kẻ sát nhân nói với họ rằng y đã chặt chân tay xác chết, bỏ vào bao, ướp đá và đem chôn tại một đầm lầy không xa New Jersey. Thế là thi thể cô bé được tìm thấy và hung thủ bị phạt tù chung thân. Nhưng rồi Hội đồng lập pháp lại khép nàng vào tội thương lượng phi đạo đức. Và hôm nay nàng được xử trắng án.
Ông Trùm nâng cốc chúc mừng tất cả các con rồi hỏi Nicole
- Và trong suốt vụ án này con đã luôn xử thế đầy tự trọng đấy chứ?
Nicole mất ngay vẻ phấn khởi.
- Đó là nguyên tắc của vấn đề. Chính phủ không thể cho phép người ta xâm hại đặc quyền giữa luật sư và khách hàng trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù có nghiêm trọng đến đâu chăng nữa, nếu không, tính bất khả xâm phạm của nó chẳng còn hiện hữu.

- Còn với cha mẹ nhạn nhân con không cảm thấy gì chăng? Lão hỏi.
- Có chứ, Nicole bực bội đáp. Nhưng liệu con có thể để tình cảm ảnh hưởng đến nguyên tắc cơ bản của pháp luật được không? Con rất khổ tâm vì việc đó, đúng thế, sao lại không cơ chứ? Nhưng rủi thay, để điều chỉnh những tiền lệ cho bộ luật tương lai lại phải có những hy sinh.
- Và thế là Hội đồng lập pháp đã lôi con ra xét hỏi chứ gì?
- Để giữ thể diện thôi. Đó là một hành động chính trị, những người bình thường, mù tịt trước những vấn đề rắc rối của hệ thống pháp lý, không thể chấp nhận những nguyên tắc luật pháp như vậy, thế là có la ó. Cho nên vụ xét hỏi con đã hòa tan mọi thứ. Một vị thẩm phán có tên tuổi nào đó đã phải ra trước công luận giải thích rằng về mặt pháp lý con có quyền từ chối cung cấp thông tin.

- Hoan hô, ông Trùm vui vẻ nói. Luật pháp bao giờ chả đầy rẫy những điều bất ngờ. Nhưng dĩ nhiên, chỉ với các luật sư thôi.
Nicole biết lão đang giễu cợt nàng. Nàng nói gay gắt, thiếu một bộ luật không thể tồn tại một nền văn minh.
- Đúng thế, lão nói như để an ủi con gái. Nhưng việc để kẻ phạm tội tày đình lại thoát án tử hình xem ra không công bằng.
- Đúng thế ba ạ. Nhưng hệ thống pháp lý của chúng ta lại dựa vào thỏa thuận nhận tội có điều kiện. Chuyện các can phạm nhận hình phạt nhẹ hơn mức chúng đáng phải nhận là có thật. Nhưng như thế cũng có cái hay - Chữa bệnh bằng lòng nhân ái. Và về lâu về dài, những kẻ phạm tội chống lại xã hội chúng ta sẽ được phục hồi dễ dàng hơn.
Bằng một lời châm chích vui vẻ ông Trùm đề nghị nâng cốc.
- Nhưng nói ba nghe coi, lão bảo Nicole. Đã khi nào con tin một người vô tội bởi nguyên nhân là bệnh tâm thần chưa? Cuối cùng thì y cũng đã vận dụng được sự tỉnh táo của mình rồi.

Valerious nhìn Nicole bằng đôi mắt lạnh lùng dò hỏi. Gã cao lớn, tuổi chừng bốn mươi, có bộ ria ngắn lởm chởm và mái tóc đang chuyển sang màu muối tiêu. Là một nhân viên tình báo, gã tự mình đưa ra những quyết định không đoái hoài đến các chuẩn mực đạo đức. Gã rất khoái lập luận của nàng.
Marcantonio hiểu em gái mình. Nàng khát khao một cuộc sống bình thường phần nào cũng vì lòng hổ thẹn với cha. Gã rất lo nàng sẽ nói những điều thiếu chín chắn, khiến người cha có thể chẳng bao giờ tha thứ cho con gái.
Về phần Astorre, chàng ngưỡng mộ Nicole – đôi mắt long lanh của nàng, năng lực phi thường mà nhờ nó, nàng đã chống trả lại sự khiêu khích của cha. Chàng nhớ cả hai đã tán tỉnh nhau thế nào khi còn niên thiếu và cảm thấy nàng vẫn dành cho mình tình yêu thương thật sự. Nhưng giờ đây chàng đã thay đổi, không còn như ngày họ yêu nhau, và cũng dễ hiểu thôi. Các anh nàng có biết gì về mối quan hệ thời xa xưa đó không, chàng tự hỏi. Và chàng lo ngại một cuộc cãi vã sẽ phá vỡ sự nhất trí trong gia đình, cái gia đình chàng yêu thương, chốn nương thân duy nhất của chàng. Chàng hy vọng Nicole sẽ không đi quá xa. Nhưng chàng cũng không mấy có thiện cảm với những quan điểm của nàng. Những năm tháng ở Sicily đã dạy chàng khác hẳn. Cái khiến chàng ngạc nhiên lại là hai con người mà chàng quan tâm tới nhất trên thế gian này lại có thể khác nhau đến thế. Và chàng chợt nghĩ rằng thậm chí nếu Nicole đúng chàng cũng không thể đứng về phía Nicole mà chống lại cha nàng.
Nicole phớt tỉnh nhìn thẳng vào mắt cha.
- Con không tin rằng y tỉnh táo, nàng nói. Y bị thúc ép bởi các hoàn cảnh của chính đời y, bởi những nhận thức méo mó của chính bản thân y, bởi di truyền, bởi đặc trưng sinh hóa của y, bởi sự dốt nát của y học, - y là một kẻ điên. Bởi thế đương nhiên con tin vào điều đó.
Sau một lát cân nhắc ông Trùm lên tiếng
- Hãy nói ba nghe, nếu y thú nhận với con rằng tất cả những lý do bào chữa của y đều là láo lếu liệu con có còn cố cưu mang y không?
- Có, Nicole đáp. Cuộc sống của mỗi cá nhân đều thiêng liêng. Nhà nước không có quyền kết thúc nó.
Lão cười giễu nàng.

- Đấy là dòng máu Italy của con. Con có biết nước Italy hiện đại không hề có án tử hình không? Cuộc sống của tất cả mọi người bên đó đều được bảo đảm. Hai người con trai lão và Astorre đều e ngại trước lời giễu cợt của lão, nhưng Nicole không hề bối rối.
Nàng nói với lão một cách cứng rắn,
- Việc núp bóng pháp luật để phạm tội giết người có chủ ý là một hành vi man rợ đối với quốc gia. Con thiết nghĩ, khác với tất cả mọi người ba lẽ ra sẽ đồng ý với điều đó. Đây là một thử thách, là động vào danh tiếng của lão. Nicole cười và nói tỉnh queo, Chúng ta có một sự lựa chọn. Kẻ phạm tội bị cách ly vĩnh viễn trong nhà thương điên hay trại giam không có hy vọng được phóng thích hoặc tạm tha. Vậy thì y không còn là mối nguy hiểm cho xã hội nữa.
Ông Trùm lạnh lùng nhìn con gái, mỗi thời mỗi việc, lão nói. Ba đồng tình với nhà nước trong vấn đề thi hành án tử hình. Thời của các con mà không có phóng thích hay tạm tha thì thật khôi hài. Hai mươi năm trôi qua, giả sử chứng cứ mới được tìm thấy, hoặc sự phục hồi được thừa nhận, và kẻ sát nhân đã trở thành một con người mới khác với chính bản thân y, bây giờ y mới bộc lộ bản tính thiện của con người. Nhưng nào có ai quan tâm đến người đã chết. Kẻ sát nhân thì đi lại tự do, còn người chết hoàn toàn không quan trọng.
Nicole chau mày.
- Ba, con không có ý nói rằng nạn nhân không quan trọng. Nhưng thi hành án tử hình đâu có thể làm người chết sống lại được. Chúng ta càng tha thứ tội sát nhân, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, bao nhiêu thì cuộc sống càng trường tồn bấy nhiêu.
Ông Trùm uống rượu và đưa mắt nhìn quanh bàn rồi dừng lại ở hai người con trai và Astorre.
- Để ba nói với các con một thực tế, lão nói, và quay về phía Nicole. Lão nói với một vẻ hăng hái hiếm thấy.

- Con cho rằng cuộc sống của con người là thiêng liêng phải không? Thế chứng cứ đâu? Ở trang nào của lịch sử? Những cuộc chiến tranh đã giết hàng triệu người lại được tất cả các chính phủ và tôn giáo ủng hộ. Việc tàn sát hàng ngàn kẻ thù trong một cuộc tranh chấp chính trị, vì những quyền lợi kinh tế được ghi nhận qua thời gian. Đã bao lần việc kiếm tiền được đặt lên trên sự thiêng liêng của cuộc sống con người? Và chính con đang tha thứ cho việc giết người khi con giúp khách hàng của con thoát khỏi bản án.
Cặp mắt đen của Nicole long lanh.
- Con không tha thứ, nàng nói. Con không tha thứ cho tội danh đó. Con nghĩ giết người là man rợ. Con chỉ bác bỏ việc đưa ra lý lẽ để tiếp tục giết người.
Lúc này ông Trùm nói nhỏ nhưng thân ái hơn.
- Giả sử nạn nhân, là người con yêu thương, nằm dưới nấm mồ. Nó vĩnh viễn không còn ở trên đời. Chúng ta sẽ không còn được thấy khuôn mặt nó, sẽ không còn nghe giọng nói của nó, không còn chạm được vào da thịt nó. Nó nằm trong bóng tối không còn biết đến chúng ta và thế giới của chúng ta....
Tất cả im lặng lắng nghe trong khi lão tợp thêm ngụm rượu.
- Nào Nicole của ba, hãy nghe ba. Khách hàng của con, kẻ giết người của con, bị tuyên án tù chung thân. Y sẽ phải nằm nhà đá hay nhà thương điên cho đến hết đời. Nhưng sáng sáng y vẫn thấy mặt trời mọc, y vẫn thưởng thức đồ ăn nóng, y vẫn nghe nhạc, máu vẫn chảy rần rật trong huyết quản y và làm y phấn chấn với đời. Những người thân yêu của y vẫn ôm hôn y. Ba biết thậm chí y còn đọc sách, học nghề thợ mộc để đóng bàn ghế. Tóm lại, y vẫn sống. Vậy là không công bằng.

Nicole cương quyết. Nàng không hề nao núng.
- Ba à, với vật nuôi trong nhà ba đâu có cho chúng ăn thịt sống. Ngay cả ngửi thôi ba cũng không cho, không thì chúng còn đòi nhiều hơn ấy chứ. Chúng ta càng giết nhiều bao nhiêu thì càng dễ dàng quen với việc giết chóc bấy nhiêu. Ba không thấy thế sao?
Khi lão không trả lời nàng lại hỏi,
- Làm sao ba có thể quyết định cái gì là công bằng cái gì là không công bằng? Ba sẽ chia ranh giới ở đâu? Đây quả là một thách đố nhưng phần nhiều mang tính biện minh để hiểu được toàn bộ những năm thắng hoài nghi của nàng về lão.
Tất cả chờ đợi cơn giận dữ của lão trước những lý lẽ xấc xược của nàng. Nhưng thật bất ngờ, lão vẫn giữ được thái độ bỡn cợt.
- Ba cũng có những lúc mềm yếu, lão nói. Nhưng không bao giờ ba cho phép một đứa con phán xét cha mẹ. Con trẻ chỉ biết ăn theo và sống bằng những chịu đựng của chúng ta. Ba coi mình là một người cha hoàn hảo. Ba đã nuôi dạy ba con, những trụ cột của xã hội, có tài, có năng lực và thành đạt, lại không hoàn toàn bất lực trước số mệnh. Trong các con có đứa nào trách cứ ba không?
Đến đây Nicole không còn giữ được bình tĩnh.
- Không, nàng nói. Là bậc sinh thành không ai có thể trách cứ ba. Nhưng ba có một vài thiếu sót. Chỉ có người nghèo mới bị treo cổ. Người giàu thừa sức xoay xở để thoát án tử hình.
Lão ném vào Nicole một cái nhìn nghiêm nghị.
- Vậy sao con không đấu tranh đòi thay đổi luật dịnh để cho người giàu cũng bị lên đoạn đầu đài cùng người nghèo?
Astorre khoái trá cười rung cả người
- Thế thì chỉ còn lại rất ít người trong chúng ta. Và câu nói này cắt đứt sự căng thẳng.
- Đức tính tốt nhất của loài người là lòng nhân từ, Nicole nói. Một xã hội văn minh không lượng thứ cho con người, nó chỉ cố tránh trừng phạt, trong chừng mực hệ thông tư pháp cho phép.
Chỉ đến lúc này ông Trùm mới đánh mất vẻ bỡn cợt của mình.
- Con lấy đâu ra những ý tưởng như vậy hả? Lão hỏi. Chúng tự mãn, hèn kém, hơn thế nữa, còn có tính báng bổ. Có ai nhẫn tâm hơn Chúa? Chúa không tha thứ cũng không cấm hình phạt. Theo ý Người, ở đây có Thiên đường và ở đây có Địa ngục. Người không xua đuổi khổ đau và buồn tủi trong thế giới của Người. Bổn phận của Đấng tối cao là thể hiện lòng nhân từ không nhiều hơn mức cần thiết. Vậy con là ai mà ban phát ân huệ dồi dào đến thế. Đấy là thói kiêu ngạo. Con có nghĩ rằng nếu con cũng Thánh như thế, con có thể tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn không? Hãy nhớ rằng các thánh chỉ cần thầm thì nguyện cầu lên Chúa, ngay lập tức các ngài có thể làm được như ước muốn nhờ tấm lòng tử vì đạo của chính các ngài. Không, chúng ta chỉ theo đuổi bổn phận của giống người. Nếu không chúng ta còn có thể phạm những tội lỗi lớn đến mức nào. Chúng ta sẽ dâng thế giới này cho quỷ dữ mất.

Nicole lặng thinh giận dữ, Valerious và Marcantonio mỉm cười. Astorre cúi đầu như thể đang cầu nguyện.
Cuối cùng Nicole lên tiếng, “Ba ạ, ba cũng phù phiếm như một người dạy đạo đức vậy. Và chắc chắn ba không phải là tấm gương để noi theo.
Một không khí im lặng kéo dài. Mỗi người ngồi đó với những hồi ức về mối quan hệ kỳ lạ của họ với ông Trùm. Nicole chẳng bao giờ quá tin vào những chuyện nàng đã nghe được về cha nàng, nhưng nỗi khiếp sợ chúng gây ra là có thật. Marcantonio nhớ là một trong các đồng nghiệp của gã tại đài truyền hình đã hỏi một cách lén lút
- Ông già mày đối xử với mày và hai đứa kia ra sao?
Cân nhắc câu hỏi một cách cẩn thận vì biết rằng tay này muốn ám chỉ đến oai danh của cha mình, Marcantonio đã trả lời hết sức nghiêm chỉnh,
- Ông thân mật với tụi tao có cỡ.
Valerious lại nghĩ cha gã giống với viên tướng cấp trên của gã đến nhường nào. Họ là những người sẵn sàng đạt tới mục đích mà không có bất kỳ một đắn đo nào về mặt đạo đức, không có bất kỳ nghi ngờ nào về bổn phận của mình. Những mũi tên lao đến mục tiêu của họ bao giờ cũng nhanh đến chết người và chính xác.
Với Astorre thì lại khác. Ông Trùm luôn tỏ ra trìu mến và tin tưởng chàng. Chàng cũng là người duy nhất ngồi tại bàn ăn này biết rõ danh tiếng của lão là có thật. Chàng nhớ lại ba năm trước, khi chàng quay về sau những năm tháng tha hương của mình, lão đã hướng dẫn chàng cẩn thận. Lão bảo chàng
- Một người ở tuổi ta có thể chết chỉ bởi vấp chân vào cửa hoặc bởi một cái nốt ruồi trên lưng, hay chỉ vì một gián đoạn nhịp đập trái tim mình. Thật lạ, con người ta chẳng thể nào biết được cái chết sẽ đến lúc nào trong đời mình. Cũng chả sao. Con người không cần có kẻ thù nhưng phải có dự định. Ta sẽ để cháu làm người thừa kế chính các nhà băng của ta. Lý do là thế này: có những tập đoàn nào đó muốn mua các nhà băng ấy, một trong số đó do tổng lãnh sự Peru chỉ đạo. Chính phủ Liên bang vẫn tiếp tục điều tra ta theo luật RICO nên người ta có thể chộp các nhà băng của ta. Thật là một việc làm mỹ mãn dành cho chúng. Chúng sẽ chẳng tìm thấy gì. Còn bây giờ, chỉ dẫn của ta cho cháu là không bao giờ được bán các nhà băng. Chúng sẽ càng sinh lời và mạnh hơn theo thời gian. Cũng theo thời gian, quá khứ sẽ bị quên lãng.
- Nếu có gì không ổn xảy ra, cháu hãy gọi cho ngài Pryor đến giúp với tư cách một nhà quản lý. Cháu chưa biết rõ ông ấy. Một người rất có năng lực và được hưởng lợi quá nhiều từ các nhà băng, ông ấy trung thành với ta. Còn nữa, ta sẽ giới thiệu cháu với Benito Craxxi ở Chicago, một người có tiềm lực vô tận và cũng có lợi nhiều từ các nhà băng. Đó cũng là một người đáng tin cậy. Đồng thời, ta sẽ giao cho cháu một lĩnh vực kinh doanh phức tạp, đơn giản là để cháu điều hành và mang lại cho cháu một cuộc sống tốt đẹp. Với tất cả việc này, ta trao cho cháu trách nhiệm bảo đảm an toàn và cuộc sống sung túc cho các con ta. Đây là một thế giới tàn nhẫn và ta đã nuôi dạy chúng thành những người trong sạch.

Ba năm sau, bây giờ đây Astorre đang suy ngẫm những lời này. Thời gian trôi qua và hiện tại những việc làm của chàng dường như không còn cần đến nữa. Thế giới của Dôn Aprile không thể sụp đổ.
Nhưng Nicole chưa hoàn toàn kết thúc cuộc tranh luận.
- Thế còn giá trị của lòng nhân từ? Nàng nói với cha. Cha có biết những người Cơ đốc giáo cổ vũ điều gì không?
Ông Trùm trả lời không do dự
- Lòng nhân từ là một sự yếu đuối, là khát vọng vươn tới những quyền lực mà ta không có được. Những kẻ thể hiện lòng nhân từ đã xúc phạm nạn nhân đến mức không thể tha thứ được, và đấy không phải là bổn phận của chúng ta trên trái đất này.
- Vậy là ba đâu cần lòng nhân từ? Nicole hỏi.
- Không cần, lão nói. Ba không tìm kiếm nó và cũng không cần đến nó. Nếu phải cần đến nó, ba sẽ chấp nhận hình phạt dành cho tất cả các tội lỗi của mình mất.
Cũng tại bữa ăn này, đại tá Valerious Aprile mời cả gia đình tham dự buổi lễ lần đầu của cậu con trai mười hai tuổi tại New York sau đó hai tháng nữa. Vợ gã cứ năn nỉ phải tổ chức thật đàng hoàng tại nhà thờ họ. Việc nhận lời mời là một thay đổi mới trong tính cách của Ông Trùm.
Và thế rồi vào một trưa chủ nhật lạnh giá tháng Mười hai sáng một màu chanh, gia đình Aprile lên đường tới Saint Patrick trên Đại lộ Năm, nơi ánh mặt trời lấp lánh in bóng ngôi nhà thờ lớn ấy xuống những đường phố xung quanh. Trùm Raymonde Aprle, Valerious cùng vợ, Marcantonio - người vẫn khao khát một chuyến đi ngắn, và Nicole lộng lẫy trong bộ đồ đen quan sát Đức Hồng y giáo chủ làm thánh lễ.
Nhìn đám con trai bước vào tuổi dậy thì, đám con gái bước vào tuổi cập kê mặc áo dài trắng có những tua bằng lanh đỏ trang trí xung quanh đang bước xuống lối đi giữa các hàng ghế trong khi các thiên sứ bằng đá quan sát chúng, xác nhận chúng sẽ phụng sự Chúa đến hết đời quả là một niềm vui ngọt ngào và bí ẩn. Nicole ứa nước mắt dù nàng chẳng tin vào những gì Đức Hồng y đang nói. Nàng cười với chính mình.
Bên ngoài thềm nhà thờ bọn trẻ cởi bỏ áo choàng để lộ ra những bộ quần áo được cất giữ lâu ngày. Đám bé gái mặc những bộ váy đăng ten trắng mỏng manh dệt theo kiểu mạng nhện. Đám bé trai trong những bộ vét màu đen, áo sơ mi trắng kết nơ đỏ trên cổ để xua đuổi quỷ dữ.

Trùm Aprile nổi bật trong nhà thờ, Astorre một bên, Marcantonio phía bên kia. Valerious và vợ đầy tự hào đang cầm chiếc áo dài của câu con trai, trong khi một tay phó nháy bấm nhanh kiểu ảnh. Ông Trùm bắt đầu bước xuống thềm một mình. Lão hít thở khí trời. Một ngày tuyệt đẹp. Lão thấy phấn chấn và tỉnh táo. Khi đứa cháu vừa được làm lễ bước lên ôm hôn lão, lão trìu mến xoa đầu nó và đặt vào lòng bàn tay nó một đồng tiền vàng lớn – món quà truyền thống trong ngày lễ này. Rồi với một bàn tay hào phóng, lão lấy từ trong túi áo khoác ra một nắm tiền vàng loại nhỏ hơn phát cho lũ trẻ. Lão lấy làm hài lòng bởi tiếng reo hò hân hoan của chúng, bởi được đến chính thành phố này, nơi có những tòa cao ốc bằng đá xám duyên dáng như những hàng cây. Lão đủng đỉnh một mình, chỉ có Astorre đi sau vài bước. Lão nhìn xuống bậc thềm lát đá phía trước rồi dừng lại trong giây lát. Đúng lúc đó một chiếc xe màu đen to tướng đõ xịch lại cứ như để đón lão vậy.
Sáng chủ nhật đó, ở Brightwaters, Heskow dậy sớm rồi đi nhận tin và báo, Y giấu chiếc xe đánh cắp vào gara, một chiếc xe du lịch màu đen to đùng chất đầy súng, mặt nạ và thùng đạn. Y kiểm tra lốp xe, đầu máy và đèn chiếu hậu. Tất cả đều hoàn hảo. Y quay gót vào nhà để đánh thức Franky và Stace, nhưng rõ ràng chúgn đều đã dậy và Stace đã pha xong cà phê.
Chúng lặng lẽ ăn sáng và đọc tờ New York Times. Franky kiểm tra điểm số của đội bóng trường đại học.
Vào lúc 10 giờ Stace hỏi Heskow
- Xe sẵn sáng chưa?
Và Heskow trả lời
- Tất cả đã sẵn sàng.
Chúng lên xe phóng đi. Franky ngồi băng ghế trước cùng Heskow, Stace ngồi băng sau. Vào thành phố mất đứt một tiếng đồng hồ nữa. Điều quan trọng là phải đúng giờ.
Trên xe Franky kiểm tra lại súng. Stace đeo thử một chiếc mặt nạ, những quả đạn màu trắng đục được cột chặt vào đầu những sợi dây để chúng có thể quấn quanh cổ cho đên khi phải gỡ ra vào thời điểm cuối cùng.
Trên đường vào thành phố chúng nghe Opera qua radio. Heskow là một tài xế tuyệt hảo, thận trọng, vững vàng, không phóng nhanh vượt ẩu. Y luôn chừa một khoảng trống vừa phải ở truớc và sau xe. Stace lầm rầm thán phục làm vơi bớt một phần căng thẳng. Bọn chúng đều căng thẳng nhưng không hề lo lắng. Chúng biết chúng phải hoàn thành. Chúng không thể sai sót.
Heskow lái xe từ từ len lỏi qua thành phố. Hình như y đều bắt kịp mỗi lần đèn xanh. Sau đó y rẽ vào Đại lộ Năm và dừng xe tại một nửa dãy nhà tính từ cửa lớn của nhà thờ. Chuông nhà thờ bắt đầu rung, âm thanh vang dội vào những tòa nhà chọc trời xung quanh. Heskow khởi động lại động cơ. Cả ba tròn mắt nhìn đám trẻ đang ùa ra đường phố. Điều này làm chúng lo lắng.
Stace thì thầm,

- Franky, bắn vào đầu nhé.
Rồi chúng thấy Trùm Aprile bước ra đi vượt lên trước đám đông. Lão bắt đầu bước xuống thềm. Hình như lão nhìn thẳng vào bọn chúng.
- Mặt nạ, Heskow ra lệnh. Y nhẹ nhàng tăng tốc, còn Franky đặt tay lên chốt cửa. Tay trái gã lăm lăm khẩu Uzi, sẵn sàng phóng xuống vỉa hè.
Chiếc xe tăng tốc và dừng phắt lại khi Trùm Aprile xuống đến bậc thềm cuối cùng. Stace lao từ băng ghế sau xuống đường, chiếc xe nằm giữa gã và mục tiêu. Bằng một cử động mau lẹ gã kê súng lên nóc xe. Gã bắn bằng cả hai tay. Và chỉ xiết cò hai lần.
Viên đạn thứ nhất găm chính giữa trán Ông Trùm. Viên thứ hai xé toang cổ họng lão. Mãu lão phun ra khắp vỉa hè, rải những giọt hồng lên ánh nắng vàng.
Cùng lúc đó Franky, vẫn đứng trên hè phố, bắn một loạt đạn dài từ khẩu Uzi của gã qua đầu đám đông.
Sau đó cả hai nhảy lên xe và Heskow rú ga lao đi. Vài phút sau chúng đã phóng qua đường hầm để tới một sân bay nhỏ, ở đó một máy bay phản lực của tư nhân đang chờ đưa chúng ra nước ngoài.
Khi tiếng súng thứ nhất vang lên, Valerious xô vợ con xuống đất và lấy thân mình che cho họ. Đúng là gã không biết chuyện gì đang xảy ra. Nicole cũng vậy. Nàng kinh hãi nhìn cha. Marcantonio nhìn xuống mà không thể nào tin được. Thực tế này khác hẳn với những hư cấu cho sàn diễn trong những thảm kịch trên TV của gã. Phát đạn bắng vào trán cha gã đã bửa đôi đầu lão như bửa một quả dưa đến nỗi có thẻ thấy óc và máu sóng sánh bên trong. Phát đạn bắn vào cổ lão thì cắt phăng ra một tảng thịt lởm chởm đến nỗi nom lão cứ như thể bị chém bởi một con dao hàng thịt. Và cơ man nào là máu trên vỉa hè quanh xác lão. Nhiều máu hơn người ta có thể tưởng tượng trong cơ thể một con người. Marcantonio nhìn thấy hai gã đàn ông đeo mặt nạ, thấy cả súng trên tay chúng, song gã như bị tê liệt vì cú sốc. Thậm chí còn không thể nói được chúng là da đen hay da trắng, cởi truồng hay mặc quần áo đàng hoàng. Chúng hẳn phải cao đến mười bộ chứ chẳng chơi.
Trái lại, Astorre đã cảnh giác ngay khi chiếc xe du lịch màu đen dừng lại. Chàng thấy Stace khai hỏa và cho rằng gã bóp cò bằng tay trái. Chàng cũng thấy Franky khai hỏa khẩu Uzi và gã này rõ ràng thuận tay trái. Chàng nhớ đã thoáng thấy gã lái xe, một kẻ có cái đầu trông nặng nề. Hai tay súng di chuyển với vẻ lẹ làng của những vận động viên được huấn luyện tốt. Lúc nhảy xuống vỉa hè, chàng đã vươn tay để kéo Trùm Aprile nằm xuống với chàng nhưng chàng chậm chưa đầy một giây. Và bây giờ người chàng đẫm máu lão.

Sau đó chàng thấy bọn trẻ di chuyển như một cơn lốc kinh hoàng, tâm cơn lốc là một dấu chấm đỏ to tướng. Bọn trẻ đang gào thét. Chàng thấy Aprile nằm vắt trên thềm như thể cái chết đã rút đi bộ xương của lão. Và chàng cảm thấy hãi hùng về tất cả những gì có thể đến với chàng, đến với những người chàng yêu thương nhất.
Nicole bước tới đứng bên xác cha. Gối nàng khuỵu xuống trái với ý muốn của nàng. Và nàng quỳ bên cha. Trong im lặng nàng đưa tay chạm vào cái cổ đẫm máu của cha. Rồi nàng khóc, tựa hồ nàng sẽ khóc như thế này mãi mãi.
 
letmyha

letmyha

Hư không
18/5/04
826
6
0
37
The land of the living
#4
Luật im lặng

Chương 3

Vụ ám sát Don Raymonde Aprile đã làm rung động cả thế giới ngầm. Kẻ nào dám xuống tay hạ một Ông Trùm như lão và động cơ nào thúc đẩy chúng làm việc đó? Hay chúng bị ai sai khiến? Hoặc ai thuê? Lão đã phân phát hầu hết đế chế của mình thì còn gì mà kiếm chác? Chết đi, lão không còn cơ hội để ban phát những món quà hẫu hĩ cũng như sử dụng ảnh hưởng của mình để giúp những người ai cần đương đầu với pháp luật và số phận.
Phải chăng đây là một cuộc báo thù đã từng bị trì hoãn? Liệu bí mật này sẽ có ngày bị phơi bày ra ánh sáng? Đương nhiên cũng có thể dính dáng đến đàn bà, nhưng ba mươi năm nay lão vẫn sống vò võ một mình, không ai thấy lão cặp kè với bông hoa nào hết. Lão cũng đâu phải loại người ham sắc. Con cái lão không ai bị nghi ngờ. Đây là một cú chuyên nghiệp, mà họ thì không tiếp xúc với bọn này.

Cho nên việc giết lão không những bí ẩn mà còn là báng bổ. Một kẻ đã gây ra bao nỗi kinh hoàng, đã trở nên vô hại với pháp luật và đồng bọn, vẫn sống nhăn khi cai quản cả một đế chế tội ác rộng lớn hơn ba mươi năm, tại sao lại có thể bị giết như thế này? Và thật nực cười, khi đã hoàn lương, đã đặt mình dưới sự che chở của pháp luật, lão lại chỉ sống được có ba năm ngắn ngủi.
Còn lạ lùng hơn khi cái chết của lão lại rơi vào im lặng. Giới truyền thông không lên tiếng, cảnh sát kín như bưng còn FBI từ chối điều tra vì coi đó là vấn đề của địa phương hoặc tệ hơn, của băng nhóm. Có vẻ như danh tiếng và quyền lực của Trùm Aprile đã tiêu tan chỉ trong ba năm giải nghệ.
Thế giới ngầm cũng tỏ ra không mấy quan tâm, không có vụ thanh toán nào vì thù hận. Tất cả bạn bè và chiến hữu trung thành của Ông Trùm Aprile dường như đã quên lão. Ngay cả con cái lão xem ra cũng muốn gác vụ này lại và chấp nhận số phận của cha mình.

Không ai quan tâm – Không ai, trừ Kurt Cilke.
Kurt Cilke, đại diện FBI tại New York, quyết định nhúng tay vào vụ này mặc dù đây là một vụ hình sự có tính địa phương dành cho NYPD(1). Ông quyết định lấy lời khai của gia đình nạn nhân.

Một tháng sau đám tang của Ông Trùm Aprle, Cilke cùng cấp phó của mình, Bill Boxton, gọi điện cho Marcantonio Aprile. Họ phải thận trọng vì Marcantonio là người lãnh đạo bộ phận lên chương trình của đài truyền hình và có nhiều ảnh hưởng ở Washington. Một cú điện thoại lịch sự đã thu xếp một cuộc gặp qua cô thư ký của gã.
Marcantonio tiếp họ trong văn phòng riêng của mình tại Trung tâm truyền hình. Gã nhã nhặn chào họ, mời họ cà phê nhưng cả hai từ chối. Gã là một người cao ráo, đẹp trai, nước da màu kem Ô liu, mặc bộ vét đen, thắt cà vạt màu hồng đỏ kỳ lạ do một nhà tạo mẫu có tiếng trong giới truyền thông sản xuất. Cilke lên tiếng

- Chúng tôi đang điều tra về cái chết của cha anh. Anh có nghĩ ai có thể gây ra vụ này không?
- Tôi thực sự không biết, Marcantonio mỉm cười nói. Cha tôi bắt tất cả con cháu đứng ngoài cuộc. Chúng tôi lớn lên hoàn toàn xa rời công việc làm ăn của ông. Gã đưa tay làm một cử chỉ xin lỗi.
Cilke không thích cử chỉ đó.
- Anh nghĩ cái gì có thể là nguyên nhân? Ông hỏi.
- Các ngài đã biết quá khứ của cha tôi. Marcantonio nói một cách nghiêm túc, Ông không muốn con cái dính dáng vào công việc của mình. Chúng tôi được đi học để tìm một chỗ đứng cho mình trong xã hội. Ông không khi nào đến nhà chúng tôi ăn tối. Ông chỉ đến dự lễ tốt nghiệp của chúng tôi; vậy đấy. Và đương nhiên, khi hiểu ra, chúng tôi vô cùng biết ơn. Cilke hỏi:
- Anh thăng tiến vùn vụt. Ông có giúp anh chút nào không?
Lần đầu tiên Marcantonio bớt đi vẻ nhã nhặn.

- Không khi nào. Trong nghề nghiệp của tôi, việc những người trẻ tuổi thăng tiến nhanh chóng không có gì bất bình thường cả. Cha tôi gửi tôi đến học ở những trường tốt nhất và cho tôi khá nhiều tiền trợ cấp. Tôi đã dùng số tiền đó để phát triển khả năng kịch nghệ, và tôi đã có những lựa chọn đúng.
- Và cha anh hài lòng chứ? Cilke hỏi. Ông đang quan sát Marcantonio, cố gắng đọc từng biểu hiện trên mặt gã.
- Tôi không nghĩ ông thực sự hiểu rõ những gì tôi đang làm, tuy nhiên ông hài lòng, Marcantonio giễu cợt đáp.
- Anh biết không, tôi đã theo dõi cha anh suốt hai mươi năm nhưng chưa lần nào bắt được ông ấy. Thật là một con người khôn ngoan.
- Chúng tôi cũng không thể làm việc đó, Marcantonio nói. Anh tôi, em gái tôi và tôi.
Cilke vừa hỏi vừa cười, Anh không cảm thấy sự báo thù của người Sicile đấy chứ? Anh có nghĩ đến một cái gì đại loại như vậy không?
- Hoàn toàn không, Marcantonio nói. Cha tôi nuôi dạy chúng tôi khôn lớn không để làm chuyện đó. Tôi hy vọng các ngài sẽ bắt được hung thủ.
- Thế còn di chúc? Cilke hỏi. Cha anh là một người giàu có.
- Các ngài phải hỏi em gái tôi chuyện đó. Nó là luật sư mà, Marcantonio trả lời.
- Nhưng anh biết trong di chúc có gì chứ ?
- Chắc thế, Marcantonio nói. Giọng gã đanh lại.
Boxton chen vào, Anh không nghĩ rằng có kẻ nào đó muốn hại cụ nhà hay sao?
- Không. Nếu có một cái tên, tôi sẽ báo ngay cho các ngài.
- Ok, Cilke nói. Tôi để lại cho anh danh thiếp. Phòng xa mà.
Trước khi đi gặp hai người con khác của Aprile, Cilke quyết định gọi điện cho thanh tra cảnh sát thành phố. Vì không muốn bị ghi âm, ông mời Paul Di Benedetto tới một trong những nhà hàng Ý đẹp nhất khu East Side. Di Benedetto rất khoái ăn nhậu miễn là y không phải chi tiền túi.
Hai người thường phải giải quyết công việc cùng nhau nhiều năm qua và Cilke rất thích giao du với y. Lúc này ông đang quan sát Paul nếm thử các món.
- Thế đấy, Di Benedetto nói. Cánh điều tra Liên bang chẳng mấy khi được xơi một bữa ngon lành như thế này. Cậu muốn cái quái gì hả?
Cilke nói: một bữa ăn thịnh soạn. Đúng không?
Di Benedetto nhún đôi vai bự như chuyển động của một con sóng. Sau đó y mỉm cười hơi pha chút ác ý. Khuôn mặt y biến thành một nhân vật được yêu thích nào đó của Disney.
- Kurt, y nói. Chỗ này toàn cứt. Nó được lũ khốn ngoài vũ trụ điều hành.
Thật đấy, chúng nấu đồ ăn nom giống kiểu Italy, chúng làm nó có mùi Italy, thế nhưng nó lại có cái vị chết tiệt thế này. Đúng là bọn ngoài hành tinh. Tớ nói cho cậu biết.

Cilke phá lên cười.
- Này, nhưng rượu cũng ngon đấy chứ?
- Với tớ, chúng có mùi thuốc trị bệnh, trừ loại guine đỏ pha lẫn soda.
- Cậu quả là người khó chiều, Cilke nói.
- Không tớ rất dễ tính. Lúc nào cũng thế.
Cilke thở dài. Mất toi hai trăm đô để đổi lấy một bãi phân.
- Ồ không, Di Benedetto đáp. Tớ đánh giá cao nghĩa cử mà.
Cilke gọi cà phê đặc cho cả hai. Ông nói
- Tớ đang điều tra vụ Trùm Aprile. Nó là của cậu, Paul ạ. Bọn tớ đã quan tâm đến lão nhiều năm mà chẳng nước non gì. Lão về hưu, sống đường hoàng, lão chẳng còn gì khiến kẻ khác thèm muốn. Vậy tại sao lão bị giết? Một việc rất nguy hiểm đối với bất kỳ kẻ nào nhúng tay vào.

- Rất chuyên nghiệp, Di Benedetto nói. Một thành tích xuất sắc.
- Vậy sao?
- Thật chẳng khôn ngoan chút nào, Di Benedetto nói. Cậu đã xóa sạch phần lớn các yếu nhân của Mafia, một việc làm cũng đáng giá đấy. Tớ xin bái phục. Có lẽ cậu còn buộc lão già đó phải về hưu. Vì thế những kẻ khôn ngoan vẫn còn chưa bị tóm không có lý do gì để nốc ao lão.
- Thế còn những nhà băng của lão? Cilke hỏi
Di Benedetto vung vẩy điếu xì gà.
- Đó là việc của cậu. Bọn tớ chỉ chạy theo đám cặn bã thôi.
- Thế còn gia đình lão ? Cilke gặng. Ma túy, đàn bà, thôi thì mọi thứ ?
- Hoàn toàn không. Những công dân thượng lưu với những nghề nghiệp cao quý. Cùng một tay lão Trùm sắp đặt cả. Lão muốn con cái mình là những người hoàn toàn ngay thẳng. Y dừng lại và làm bộ nghiêm trọng. Ở đây phải có nguyên nhân. Phải có kẻ nào đó được lợi. Đấy là cái chúng tớ đang tìm.

- Còn di chúc của lão ?
- Ngày mai con gái lão sẽ nộp. Tớ yêu cầu mà. Cô ta bảo tớ phải chờ.
- Và cậu vẫn chờ chứ ? Cilke hỏi.
- Ừ, Di Benedetto nói. Cô ta là một luật sư thượng hạng, có nhiều ảnh hưởng và hãng luật của cô ta là một lực lượng chính trị. Làm sao tớ có thể cứng rắn với cô ta được ? Tớ chỉ còn cách phục tùng thôi.
- Có thể tớ sẽ làm tốt hơn. Cilke nói.
- Tớ chắc vậy.
Kurt Cilke biết phó thanh tra cảnh sát, Aspinella Washington, hơn mười năm nay. Mụ cao sáu bộ, là người Mỹ gốc Phi có mái tóc cắt ngắn và những đường nét đẹp như tạc. Mụ là nỗi khiếp sợ của thuộc cấp và đám tội phạm rơi vào tay mụ. Một cách cố ý, mụ hay làm mếch lòng mọi người, và mụ chẳng ưa gì Cilke cũng như FBI.
Mụ đón Cilke tại cơ quan với câu hỏi
- Kurt, anh đến đây mời tôi đi ăn cỗ phải không ?
Cilke cười
- Không, Aspinella. Tôi đến tìm thông tin.
- Rõ rồi, mụ nói. Miễn phí chứ ? Hay sau khi anh trả cho thành phố năm triệu đô la ?

Mụ mặc áo khoác bằng vải thường và quần màu nâu vàng. Dưới áo khoác của mụ anh nhìn thấy một bao súng ngắn. Tay phải mụ đeo một chiếc nhẫn kim cương xem ra có thể cắt được lớp da chẳng kém gì một lưỡi dao cạo.
Mụ vẫn còn ác cảm với Cilke vì FBI đã có lần làm rõ một vụ lạm dụng vũ lực chống lại các điều tra viên của mụ và trên cơ sở quyền công dân, nạn nhân đã thắng kiện, hai điều tra viên của mụ phải ra tòa. Nạn nhân, một kẻ giàu có, là một tên ma cô và bán rong ma túy. Chính Aspinella đã có lần nện y một trận nhừ tử. Mặc dù được đề bạt làm phó sếp để xoa dịu người Mỹ da đen, nhưng Aspinella lại tỏ ra cứng rắn với đám tội phạm da đen hơn đám tội phạm da trắng.
- Ngừng đánh những người vô tội, Cilke nói. Tôi cũng sẽ dừng lại.
- Tôi chưa bao giờ chụp mũ những người không có tội cả, mụ nói và cười toe toét.
- Tôi đang tìm kẻ giết Trùm Aprile, Cilke nói.
- Đấy có phải việc của anh đâu ? Đây là một vụ đụng độ của các băng nhóm địa phương. Chó chết. Hay anh đang làm một vụ quyền công dân khác đấy ?
- Ừ, nó có thể liên quan đến tiền bạc và ma túy, Cilke nói.
- Làm sao anh biết được ?
- Chúng tôi có chỉ điểm chứ sao.
Bất thình lình Aspinella lên cơn thịnh nộ.
- Anh và cả cái đám FBI chó chết tới đây để lấy thông tin mà chẳng chịu chìa cho tôi cái gì cả. Các anh không đàng hoàng như cớm. Các anh chỉ lượn lờ quanh việc bắt giữ mấy thằng trí thức. Các anh chẳng bao giờ đụng vào những việc bẩn thỉu. Các anh đéo biết đó là cái gì. Xéo khỏi đây ngay.

Cilke hài lòng với hai cuộc phỏng vấn. Kết quả đã rõ ràng. Cả Di Benedetto và Aspinella sẽ phải vào nhà đá trong vụ Trùm Aprile. Họ sẽ không hợp tác với FBI. Họ sẽ chỉ làm chiếu lệ. Tóm lại, họ đã bị hối lộ.

Ở đây, một nguyên nhân giải thích cho niềm tin của ông. Ông biết việc buôn bán ma túy chỉ có thể tồn tại nếu các nhân viên cảnh sát bị mua chuộc, và ông có lời bảo đảm, không được tốt lắm trước tòa, rằng Di Benedetto và Aspinella có tên trong danh sách trả lương của bọn buôn ma túy.
Trước khi gặp Nicole, Cilke quyết định tận dụng cơ hội với người con cả của lão, Valerious Aprile. Thế là ông và Boxton phải lên West Point, nơi Valerious - một đại tá quân đội Mỹ - dạy chiến thuật quân sự - hay một môn quỷ quái nào đấy, Cilke nghĩ vậy.
Valerious tiếp họ trong một căn phòng rộng nhìn xuống sân duỵêt binh, nơi các học viên sĩ quan đang tập đi đều. Gã không được nhã nhặn như đứa em trai. Cilke hỏi liệu gã có biết về các kẻ thù của cha mình không.
- Không, gã nói. Tôi phục vụ ở nước ngoài suốt gần hai mươi năm qua. Tôi chỉ về nhà khi có thể. Cha tôi tin rằng tôi sẽ leo lên đến hàng cấp tướng. Ông muốn thấy tôi đeo ngôi sao đó. Thậm chí lon thiếu tướng cũng làm ông vui rồi.
- Thế thì ông nhà yêu nước quá còn gì ? Cilke hỏi.
- Ông yêu đất nước này. Valerious đáp cộc lốc.
- Ông cho ngài cơ hội được làm học viên sĩ quan phải không ? Cilke thúc ép.
- Tôi nghĩ vậy. Valerious nói. Nhưng ông không thể làm cho tôi thành một viên tướng. Tôi đoán ông không có ảnh hưởng ở Lầu Năm góc, hoặc ở một mức độ nào đó, tôi không đủ tiêu chuẩn. Dù sao tôi cũng thích nó. Tôi có cơ hội của mình.
- Ngài không thể cho chúng tôi một đầu mối dẫn đến bất kỳ kẻ thù nào của ông nhà ư? Cilke hỏi.
- Không, ông không hề có kẻ thù. Valerious đáp. Cha tôi lẽ ra có thể trở thành một vị tướng tài. Khi về hưu, ông đã che giấu được mọi thứ. Sức mạnh của ông khi được sử dụng luôn luôn nhằm mục đích ngăn chặn. ông có lực lượng và tiền bạc.

- Ngài có vẻ chẳng mấy quan tâm xem ai đã giết cha ngài. Không có ý định trả thù chứ?
- Không nhiều hơn so với một đồng sự ngã xuống trong chiến đấu, Valerious nói. Tất nhiên tôi rất muốn không một ai phải nhìn thấy cha mình bị giết.
- Ngài có biết gì về bản di chúc của ông nhà không?
- Ngài phải hỏi em gái tối, Valerious trả lời.
Cuối chiều hôm đó. Cilke và Boxton có mặt ở văn phòng của Nicole Aprile, và tại đây họ được đón tiếp khác hẳn. Chỉ có thể đến được phòng làm việc của Nicole bằng cách đi qua ba lớp rào thư ký và một nữ vệ sẽ trông có vẻ thừa sức đẩy cả Cilke và Boxton văng ra trong vòng hai giấy. Nhìn cách di chuyển có thể nói rằng công ta đã tập luyện một cách công phu và bài bản. Các cơ bắp của cô hằn lên qua lớp quần áo. Bộ ngực được nịt chặt, cô mặc áo khoác bằng lanh trùm ra bên ngoài áo len cổ lọ và chiếc quần màu đen.
Nicole chào đón khách không được nồng nhiệt lắm. Trông nàng rất hấp dẫn trong bộ vét hợp thời trang màu tím đậm. Nàng đeo đôi khuyên tai rất to bằng vàng, còn mái tóc đen của nàng vừa mượt vừa dài. Nét mặt nàng đẹp và cứng rắn được biểu lộ bởi đôi mắt to màu nâu dịu.

- Thưa các ngài, tôi chỉ cho các ngài hai mươi phút thôi, nàng nói. Nàng mặc chiếc áo cánh có riềm xếp bên trong áo khoác tím. Hai ống tay áo che kín cả bàn tay nàng trong khi nàng chìa một tay ra cầm chiếc thẻ của Cilke. Nàng xem một cách cẩn thận rồi nói:
- Đại diện đặc biệt à? Cấp bậc khá cao cho một yêu cầu thường ngày thế này.
Nàng nói bằng một chất giọng quá quen thuộc với Cilke, giọng nói này thường làm ông bực mình. Đó là giọng trách mắng nhẹ nhàng của các công tố viên Liên bang khi đang giải quyết các vấn đề điều tra mà họ phụ trách.
- Cha cô là một người rất quan trọng, thưa cô. Cilke nói.
- Vâng, cho đến khi ông về hưu và đặt mình dưới sự che chở của pháp luật. Nicole cay đắng nói.
- Điều đó càng làm cho việc giết ông nhà bí hiểm hơn, Cilke nói. Chúng tôi hy vọng cô có thể cho chúng tôi một số ý niệm về những kẻ có thái độ hằn học với ông nhà.
- Không đến nỗi bí hiểm đến thế, Nicole nói. Ngài biết cuộc sống của cha tôi rõ hơn tôi nhiều. Ông có không ít kẻ thù, trong đó có cả ngài nữa đấy.
- Ngay cả những người chỉ trích chúng tôi tệ hại nhất cũng không buộc FBI dính vào vụ án mạng bên thềm nhà thờ. Cilke nói khô khốc. Mà tôi cũng chẳng phải là kẻ thù của ông ấy. Tôi chỉ là người thừa hành pháp luật. Sau khi nghỉ hưu ông không còn kẻ thù. Ông đã đấm mõm bọn chúng. Cilke dừng lại một lát. Tôi thấy khó hiểu là cả cô và các anh cô hình như đều không muốn tìm ra kẻ đã giết cha mình.
- Vì chúng tôi không phải là những kẻ đạo đức giả, Nicole vặc lại. Cha tôi không là một vị thánh. Ông tham gia cuộc chơi và đã trả giá. Nàng dừng lại. Và ngài đã nhầm khi cho rằng tôi không quan tâm. Thực tế là tôi sẽ kiến nghị lấy hồ sơ của FBI về cha tôi theo luật tự do thông tin. Tôi hy vọng ngài sẽ không gây trở ngại, vì nếu thế chúng ta sẽ là kẻ thù của nhau đấy.

- Đấy là quyền của cô, Cilke nói. Nhưng biết đâu cô có thể giúp tôi bằng cách cho tôi biết những điều khoản trong di chúc của ông.
- Tôi có thảo di chúc đầu, Nicole nói.
- Nhưng tôi nghe nói cô là luật sư. Lúc này cô hẳn phải biết các điều khoản của nó rồi.
- Chúng tôi sẽ đệ trình xin chứng thực vào ngày mai. Nó sẽ là hồ sơ công dân.
- Còn gì giúp được chúng tôi mà cô có thể nói bây giờ không ? Cilke hỏi.
- Chỉ còn việc tôi sẽ không về hưu sớm nữa thôi.
- Sao hôm nay cô không nói gì với tôi hả ?
- Vì tôi không có nghĩa vụ phải làm như vậy, Nicole lạnh lùng đáp.
- Tôi biết cha cô khá rõ, Cilke nói. Lẽ ra ông ấy phải chừng mực hơn.
Lần đầu tiên nàng nhìn ông bằng ánh mắt tôn trọng.
- Đúng thế, nàng nói. OK. cha tôi đã phân phát rất nhiều tiền trước khi chết. Tất cả những gì ông để lại cho chúng tôi là các nhà băng. Tôi và hai anh thừa hưởng bốn mươi chính phần trăm, năm mốt phần trăm còn lại sẽ thuộc về một người bà con, Artorre Viola.
- Cô có thể cho tôi biết đôi điều về anh ta không ? Cilke hỏi.
- Astorre ít tuổi hơn tôi. Anh ấy chưa bao giờ dính dáng vào chuyện làm ăn của cha tôi cả, và tất cả chúng tôi đều yêu quý anh vì đấy là một anh chàng dễ thương. Tất nhiên bây giờ tôi không còn yêu anh ấy nhiều như trước kia.
Cilke lục tìm trong ký ức. Ông không thể nhớ hồ sơ về Artorre Viola nhưng nhất định nó phải nằm đâu đó.
- Cô có thể cho tôi địa chỉ và số điện thoại của cậu ta không ? Cilke hỏi.
- Được thôi, Nicole trả lời. Nhưng các ngài chỉ phí thì giờ thôi. Tin tôi đi.
- Tôi phải làm rõ các chi tiết, Cilke nói giọng hối lỗi.
- Vậy điều gì làm FBI quan tâm ? Nicole hỏi. Đây là vụ trọng án của địa phương cơ mà ?
Cilke lạnh lùng nói
- Mười ngân hàng cha cô sở hữu đều là những ngân hàng quốc tế. Ở đây có thể có những rắc rối về tài chính.
- Ồ đúng rồi, Nicole reo lên. Vậy tôi sẽ hỏi hồ sơ về anh ấy ngay bây giờ. Xét cho cùng thì tôi cũng sở hữu một phần các nhà băng đó. Nàng nhìn ông ngờ vực, và ông biết mình sẽ còn phải để mắt tới nàng.

Ngay hôm sau Cilke và Boxton đánh xe đi Westehester County để gặp Astorre Viola. Nơi đây có một bất động sản trồng nhiều cây bao gồm một ngôi nhà đồ sộ và ba chuồng ngựa. Có cả thảy sáu con ngựa trên đồng cỏ được bao quanh bởi một hàng rào hai nhánh ray cao tới thắt lưng có những cánh cổng làm bằng sắt rèn. Bốn chiếc xe hơi và một xe tải nhỏ đỗ ở bãi đất trống trước nhà. Cilke nhớ được hai trong số các biển đăng ký.
Một bà lão chừng bảy mươi tuổi cho họ vào rồi dẫn họ tới một phòng khách sang trọng chất đầy dụng cụ thu âm. Bốn thanh niên đang đọc bản nhạc trên giá nhạc và một người ngồi trước cây đàn piano - một sự phối hợp nhà nghề của Saxophone, guitar bass, guitar và trống.
Astorre đứng trước micro đối diện với những người kia và đang hát bằng một giọng khàn khàn. Đến Cilke cũng có thể nói rằng loại nhạc này sẽ không có khán giả.

Astorre ngừng hát và nói với hai vị khách,
- Các ngài có thể chờ năm phút cho đến khi chúng tôi thu âm xong được không ? Sau đó các bạn tối có thể nghỉ ngơi còn các ngài sẽ có đủ thời gian mong muốn.
- Được thôi, Cilke nói.
- Mang cà phê cho khách nhé, Astorre nói với bà giúp việc. Astorre không yêu cầu một cách lịch sự mà là ra lệnh
Cilke và Boxton phải chờ hơn năm phút. Astorre đang thu âm một bài dân ca Italy - vừa gảy tưng tưng vào cây đàn banjo chàng vừa hát bằng một thổ ngữ dung tục mà Cilke không hiểu được. Nghe chàng hát cũng thấy thích, cứ như nghe chính giọng mình trong cơn mưa rào.
Cuối cùng chỉ còn lại mình họ, Astorre lau mặt.
- Cũng không tệ lắm, chàng cười nói. Phải không các ngài ?
Cilke thấy mình ngay lập tức mến chàng trai. Khoảng ba mươi, chàng có sức sống của một đứa trẻ và không làm ra vẻ quan trọng. Chàng cao và cân đối, khéo léo như một võ sĩ quyền Anh. Chàng có vẻ đẹp của nước da ngăm và những đường nét trên khuôn mặt không đều nhưng sắc sảo mà người ta có thể thấy ở những bức chân dung thế kỷ mười lăm. Chàng không có vẻ tự phụ nhưng quanh cổ lại đeo một chiếc dây vàng bản rộng tới hai inch, gắn vào đó là một huy hiệu có khắc hình Đức mẹ đồng trinh.
- Nghe hay đấy, Cilke nói. Cậu sẽ chọn lựa một đĩa nhạc để bán chứ ?
Astorre cười, một nụ cười rộng mở hòa nhã.
- Tôi muốn lắm chứ. Nhưng tôi không khá đến thế đâu. Tuy nhiên tôi thích những bài hát này. Tôi tặng chúng cho các bạn tôi làm kỉ niệm.
Cilke quyết định đi ngay vào công việc.
- Đây chỉ là thủ tục thôi, ông nói. Cậu có biết kẻ nào có thể hại bác cậu không ?
- Không ai sất, Astorre nói, mắt nhìn thẳng. Cilke mệt mỏi vì phải nghe mãi điều này. Ai mà chẳng có kẻ thù cơ chứ, nhất là Trùm Aprile.
- Cậu được thừa kế các nhà băng. Về mặt huyết thống cậu có gần đến thế không ?
- Thực ra tôi cũng không biết, Astorre nói. Khi còn nhỏ tôi là một trong số những người được bác tôi yêu quý. Bác giúp tôi kinh doanh và rồi hình như quên tôi luôn.
- Cậu kinh doanh những gì ? Cilke hỏi.
- Tôi nhập khẩu các loại macaroni thượng hạng từ Italy.
Cilke nhìn cậu ngờ vực.
Astorre mỉm cười, chàng đã quen với những phản ứng loại này. Đây không phải là lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn.
- Ngài biết tại sao Lee Iacocca không khi nào nói xe hơi mà luôn luôn nói ô tô chứ ? Cũng vậy thôi, trong kinh doanh chúng tôi không nói bột và mì ống, chúng tôi chỉ nói macaroni.
- Và bây giờ cậu sẽ là chủ nhà băng ? Cilke hỏi.
- Tôi sẽ thử, Astorre trả lời.
Trên đường về Cilke hỏi Boxton
- Cậu nghĩ sao ? Ông thích Boxton. Một người luôn được yêu mến ở Cục vì những gì anh làm – đó là luôn đúng luật, liêm khiết và tố hơn nhiều so với bất kỳ một cơ quan thi hành pháp luật nào về tính hiệu quả. Những cuộc phỏng vấn này phần nào có lợi cho anh.
- Với tôi tất cả đều có vẻ thành thật, Boxton nói. Không phải lúc nào cũng vậy sao ?

Ừ, họ luôn thành thật, Cilke nghĩ. Rồi một cái gì đó nảy ra trong ông. Tấm huy hiệu gắn vào chiếc vòng vàng trên cổ Astorre không khi nào chuyển động.
Đối với Cilke quan trọng nhất là cuộc phỏng vấn cuối cùng với Timmona Portella, trùm Mafia New York. Chỉ có hắn và Trùm Aprile là chưa bị truy tố sau các cuộc điều tra của Cilke.


(Còn tiếp)
 
letmyha

letmyha

Hư không
18/5/04
826
6
0
37
The land of the living
#5
Luật im lặng

[Chương 3 (cont.)

Portella điều hành các hoạt động của mình từ một văn phòng rộng rãi trên đỉnh một cao ốc của hắn ở khu West Side. Các công ty con do hắn kiểm soát chiếm nốt phần còn lại của tòa nhà. An ninh ở đây chặt chẽ như ở pháo đài Fort Knox, và bản thân Portella đi về dinh thự của mình bằng máy bay lên thẳng – trên nóc cao ốc trang bị một bãi đáp. Chân hắn chẳng mấy khi chạm vào hè phố New York.

Portella chào đón Cilke và Boxton tại văn phòng của hắn. Nơi đây la liệt ghế bành, còn những bức tường chống đạn bằng thủy tinh cho người ta cái nhìn tuyệt diệu về đường nét của thành phố từ trên trời. Hắn có một thân hình đồ sộ, tươm tất trong bộ comple đen và sơ mi trắng.

Cilke bắt bàn tay đầy thịt của Portella và tỏ ra ngưỡng mộ chiếc cà vạt đen thắt trên cái cần cổ tổ bố của hắn.
- Kurt này, tôi giúp được gì cho ngài đây ? Portella nói bằng giọng kim vang khắp căn phòng. Hắn lờ luôn Bill Boxton.
- Tôi chỉ kiểm tra việc làm của Aprile. Tôi nghĩ rằng ngài có thể biết một số thông tin mà tôi đang cần.
- Tiếc quá, ông ấy chết rồi, Portella nói, Ai mà không yêu quý Raymonde Aprile chứ. Tôi không tài nào hiểu nổi ai đó lại có thể làm việc này. Ông ấy đã thành một vị thánh, thánh sống. Ông ấy đã hiến tiền bạc của mình như Rockefeller vậy. Lúc Chúa mang ông ấy đi tâm hồn ông ấy hoàn toàn tinh khiết.

- Chúa không mang ông ấy đi, Kurt nói khô khốc. Đó là một vụ giết người cực kỳ chuyên nghiệp. Ở đây nhất định phải có động cơ. Mắt Portella giật giật nhưng hắn không nói gì. Cilke tiếp tục, Ngài là đồng nghiệp của ông ấy nhiều năm qua. Ngài phải biết một cái gì đó chứ. Việc cháu ông ấy được thừa kế ngân hàng là sao hả ?

- Nhiều năm trước Don Aprile và tôi có làm chung vài vụ, Portella nói. Nhưng khi Aprile về hưu, suyt nữa ông ấy đã khử tôi. Việc tôi hãy còn sống chứng minh rằng chúng tôi không là kẻ thù của nhau. Về thằng cháu ông ấy tôi chả biết gì trừ việc cậu ấy là ca sĩ. Cậu ấy hát tại các đám cưới, các buổi tiệc tùng, thậm chí cả ở vài hộp đêm nữa. Cậu ấy là một trong số những thanh niên mà mấy lão già cổ hủ như tôi yêu mến. Cậu ấy bán loại Macaroni hảo hạng của Italy. Tất cả các nhà hàng của tôi đều dùng chúng. Hắn dừng lại và thở dài. Một người vĩ đại bị giết luôn luôn là một điều bí ẩn.
- Ngài biết đấy, sự giúp đỡ của ngài sẽ được đánh giá cao, Cilke nói.
- Tất nhiên. FBI luôn chơi sòng phẳng mà. Tôi biết sự giúp đỡ của tôi sẽ được đánh giá cao. Hắn ban cho Cilke và Boxton một nụ cười ấm áp làm phô ra những chiếc răng vuông vức và hoàn hảo.

Trên đường về cơ quan, Boxton nói với Cilke,
- Tôi đã đọc hồ sơ về thằng cha này. Nó là trùm kinh doanh mặt hàng đồi trụy và ma túy, nó còn là một kẻ sát nhân nữa. Tại sao chúng ta lại chưa tóm được nó nhỉ ?
- Cũng chẳng tệ hơn những đứa khác đâu, Cilke nói. Thế nào cũng có ngày tôi chộp được nó.
Kurt Cilke đề nghị giám sát điện tử nhà Nicole Aprile và Astorre Viola. Một thẩm phán của tòa án dân sự Liên bang đã thông qua quy định cần thiết. Không phải Cilke thực sự nghi ngờ - ông chỉ muốn thật chắc chắn. Nicole bẩm sinh là người gây rắc rối, Astorre trông đáng tin cậy hơn. Không thể nghe lén Valerious vì nhà gã nằm trong học viện West Point.
Cilke nghe nói niềm đam mê của Astorre là những con ngựa trên đồng cỏ của chàng. Sáng nào chàng cũng chải lông cho một con ngựa đực trước khi thả nó ra đồng cỏ. Cũng không có gì xấu, trừ việc chàng toàn mặc lễ phục kiểu Anh – áo choàng đỏ và những thứ khác kể cả một chiếc mũ đi săn bằng da mềm màu đen.
Ông thấy khó mà tin rằng Astorre lại trở thành mục tiêu không tự vệ được của ba kẻ trấn lột ở Central Park. Hình như chàng thoát được – nhưng về những gì đã xảy ra với những kẻ trấn lột thì báo cáo của cảnh sát lại quá mù mờ.
Hai tuần sau Cilke và Boxton đã có thể nghe được những cuộn băng được cài tại nhà Astorre. Những giọng nói là của Nicole, Marcantonio, Valerious và Astorre. Trên cuốn băng họ trở nên con người hơn với Cilke, họ đã tháo bỏ mặt nạ của mình.
- Tại sao chúng lại giết ba? Nicole hỏi, giọng nàng vỡ ra đầy đau khổ. Không còn sự lạnh lùng mà nàng đã thể hiện với Cilke.
- Ở đây phải có lý do, Valerious khẽ khàng nói. Giọng gã nhã nhặn hơn khi nói với gia đình mình. Tôi chẳng có mối liên hệ nào với việc làm ăn của ông già nên tôi cũng không lo gì cho tôi cả. Thế còn cô chú?

Marcantonio nói với vẻ khinh thị, rõ ràng không khoái anh trai mình.
- Val, ông già lo cho anh đến West Point vì anh là người nhu nhược. Ông muốn làm anh cứng rắn. Rồi ông lại lo cho anh đi làm tình báo ở nước ngoài nên anh mới có hôm nay. Ông khoái cái ý tưởng anh có thể lên đến cấp tướng. Tướng Aprile – ông khoái cái âm thanh đó lắm. Ai mà biết ông đã giật những sợi dây nào. Giọng Marc ở trong băng vang lên với quá nhiều năng lượng và sôi nổi hơn khi đối thoại trực tiếp.
Một đoạn tạm dừng dài, rồi Marcantonio nói tiếp
- Tất nhiên ông cũng giúp tôi khởi sự. Ông tài trợ cho hãng sản xuất của tôi. Các cơ quan đại diện lớn đã cho tôi cơ hội làm việc với những ngôi sao của họ. Nghe đây, chúng ta không hiện diện trong cuộc sống của ông già, nhưng ông luôn luôn ở trong chúng ta. Nicole, ông già đã đỡ cho cô mười năm trả nợ bởi đã lo cho cô nghề luật sư ở hãng luật. Còn Astorre, chú nghĩ coi ai đã lo cho chú cái quầy macaroni ở các siêu thị hả?
Bất thình lình Nicole nổi cáu.
- Ba có thể đã lo lót cho tôi lọt cửa, nhưng người duy nhất có trách nhiệm về những thành đạt trong nghề nghiệp của tôi chính là tôi. Tôi đã phải đấu tranh với các tay tổ tại hãng luật cho những gì tôi nhận được. Tôi đã phải dành tám tiếng một ngày để đọc các ấn phẩm nghệ thuật. Nàng dừng lại, lúc này giọng nàng trở nên lạnh lùng. Hẳn nàng đã quay sang Astorre. Và điều tôi muốn biết là tại sao ba lại để anh đại diện cho các nhà băng. Anh thì làm được cái quái gì hả?
Giọng Astorre vang lên hối tiếc
- Nicole à, tôi đâu biết. Tôi không đòi hỏi điều đó. Tôi có cơ sở kinh doanh, tôi thích ca hát và cưỡi ngựa. Ngoài ra, như thế cũng tốt cho các anh chị. Tôi phải làm tất cả mọi việc, và lãi sẽ được chia đều cho bốn người chúng ta.
- Nhưng anh có quyền kiểm soát trong khi anh chỉ là chỗ họ hàng, Nicole nói. Nàng mỉa mai chua thêm. Chắc ba tôi phải thích nghe anh hát lắm.
Valerious nói

- Chú sẽ cố điều hành nhà băng một mình chứ ?
Astorre giả vờ khiếp sợ
- Ồ, không, không. Nicole sẽ ném vào mặt tôi một danh sách những cái tên, họ vẫn làm thế mà.
Giọng Nicole đẫm nước mắt và thất vọng
- Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao ba không chọn tôi. Tại sao?
- Bởi ông không muốn bất kỳ đứa con nào của mình ngồi trên đầu người khác, Marcantonio nói.
Astorre nhỏ nhẹ
- Có lẽ làm thế để tránh cho các anh chị khỏi gặp nguy hiểm đấy thôi.
- Tại sao anh lại thích thằng cha FBI, kẻ đã tới nhà mình cứ như thể một người bạn tốt nhất ấy? Nicole nói. Hắn đã săn đuổi ông già nhiều năm trời. Bây giờ lại còn hý hửng tưởng anh em mình sẽ rót tất cả bí mật gia đình vào tai hắn. Đồ đê tiện.
Cilke cảm thấy máu nóng dồn lên mặt. Ông đâu có xứng với điều đó.
Valerious nói
- Hắn đang làm nhiệm vụ. Cũng chẳng dễ đâu. Hắn hẳn phải là một người có tài. Hắn đã lôi được khá nhiều bạn bè của ông già ra trước vành móng ngựa. Và hắn làm được hoài.
- Quân phải bội, lũ chỉ điểm, Nicole khinh bỉ nói. Và còn luật RICO nữa, người ta thực hiện chúng rất bài bản. Chiếu theo luật này, một nửa các nhà lãnh đạo của chúng ta có thể phải ra tòa, và phần lớn cánh nhà giàu của Câu lạc bộ năm trăm nữa.
- Nicole, cô là luật sư đấy, Marcantonio nói. Cắt cái chuyện rác rưởi ấy đi.
Astorre tư lự hỏi, các nhân viên FBI kiếm đâu ra bộ cánh kẻng thế nhỉ? Có thợ may đặc biệt cho họ à?
- Đó là cách ăn mặc của họ thôi, Marcantonio nói. Chuyện đó cũng bí mật đấy. Nhưng trên TV tụi này chưa bao giờ kiếm được một gã như Cilke cả. Cực kỳ lịch sự, cực kỳ trung thực, danh giá trên mọi phương diện. Tuy nhiên đừng bao giờ tin hắn.
- Marc, hãy quên cái chương trình TV giả cầy của chú đi. Chúng ta đang lâm vào một tình thế bất lợi. Và lúc này có hai vấn đề lớn được đặt ra: Tại sao và kẻ nào. Tại sao ba bị giết? Kẻ nào có thể làm việc đó? Ai cũng nói ba không có kẻ thù và chẳng có gì để người khác phải thèm muốn.
- Tôi có kiến nghị được xem hồ sơ của ba tại Cục lưu trữ, Nicole nói. May ra tìm được đầu mối.
- Để làm gì? Marcantonio phản đối. Tụi mình không làm được gì đâu. Vụ này phải để cho chính quyền lo.
Giọng Nicole lộ vẻ xem thường. Vậy việc chúng ta xem xét kẻ nào đã giết ba là vô lý à? Anh nghĩ sao hả Astorre? Anh có thấy như vậy không?
Giọng Astorre nhẹ nhàng, ôn hòa.
- Anh em mình có thể làm gì? Tôi yêu cha của các anh chị. Tôi biết ơn bác, trong di chúc bác đã quá hào phóng với tôi. Nhưng hãy chịu khó đợi xem chuyện gì xảy ra. Đúng, tôi thích Cilke. Nếu ở đây có gì để tìm, ông ấy sẽ tìm được. Anh em mình đều có cuộc sống tốt đẹp, vậy thì hủy hoại nó làm gì? Chàng dừng lại rồi nói tiếp
- Thôi, tôi còn phải gọi cho một trong số những nhà cung cấp của tôi. Tôi phải đi đây. Nhưng mọi người cứ ở lại mà bàn tiếp.
Đến đây có một khoảng im lặng khá dài. Cilke không thể không dành thiện chí cho Astorre và sự phẫn nộ cho những người còn lại. Nhưng nhìn chung, ông hài lòng. Đây không phải là những người nguy hiểm. Họ sẽ không gây rắc rối cho ông.

- Tôi yêu quý Astorre, lúc này giọng Nicole vang lên. Anh ấy gần gũi ba hơn bất kỳ ai trong ba anh em ta. Nhưng cũng chả là cái quái gì. Marc, liệu anh ấy có thể hành nghề hát xướng được không?
Marcantonio phá lên cười
- Bọn này đã thấy hàng nghìn thằng như nó. Nó giống một ngôi sao bóng đá trong một trường trung học nhỏ. Vui tính, nhưng nó không có tài sản. Tuy thế nó có việc làm tốt và nó thích thế, vậy thì việc chó gì hả?
- Anh ấy kiểm soát những ngân hàng nhiều tỷ đôla - tất cả những gì chúng mình có, nhưng cái làm cho Astorre thực sự quan tâm lại là ca hát và cưỡi ngựa. Nicole nói.
Valerious nói nửa thương hại, nửa hài hước.
- Ăn mặc thì cũng bảnh đấy, nhưng chú ấy có một vị trí tồi tệ quá.
Nicole nói
- Sao ba có thể làm thế nhỉ?
- Thì cũng nhờ món macaroni ấy mà ông già mới làm được một việc tốt, Valerious nói.
- Anh em mình phải bảo vệ Astorre, Nicole nói. Anh chàng này quá non nớt để điều hành các nhà băng và quá khờ khạo để đối phó với Cilke.
Nghe hết cuộn băng Cilke quay sang Boxton.
- Cậu nghĩ sao?
- À, như Astorre, tôi nghĩ anh là một gã cừ đấy. Boxton nói.
Cilke phá lên cười.
- Không, ý tôi muốn nói là các vị này có khả năng giết người hay không?
- Không. Thứ nhất họ là con cháu lão, thứ hai họ không có khả năng giết người.
- Dẫu vậy họ cũng thông minh đấy, Cilke nói. Họ đặt ra một câu hỏi đúng. Sao vậy nhỉ?
- À đấy không phải là việc của chúng ta, Boxton nói. Nó là của địa phương chứ không phải của Liên bang. Hay anh đã lần ra mối quan hệ nào rồi?
- Các nhà băng, Cilke nói. Không cần phải lãng phí tiền của Cục nữa, chấm dứt nghe trộm.

Kurt Cilke thích chó vì chúng trung thành. Ông có hai con chó chăn cừu giống Đức để giữ nhà. Đêm đêm ông cùng chúng tản bộ qua khu rừng gần nơi ở, lòng tràn ngập niềm tin và thanh thản.
Đêm đó trở về nhà ông rất hài lòng. Tình hình không còn nguy hiểm nữa, không có mối đe dọa nào từ phía gia đình nạn nhân. Sẽ không có trả thù đẫm máu.
Cilke sống ở New Jersey cùng người vợ ông hết mực yêu thương và đứa con gái ông hết mực cưng chiều. Nhà ông được lắp hệ thống bảo vệ, thêm vào đó còn hai con chó. Chính phủ chịu phần chi phí. Vợ ông từ chối học cách sử dụng súng nên ông chỉ còn trông cậy vào việc giấu kín tung tích. Hàng xóm nghĩ ông là luật sư (ông đã từng là luật sư thật), con gái ông cũng nghĩ vậy. Cilke luôn cất kín súng đạn và thẻ mật vụ khi ông ở nhà.
Ông không bao giờ gửi xe ở nhà ga để và thành phố làm việc. Lũ trộm vặt có thể thó mất súng và bộ đàm trên xe. Khi về New Jersey ông gọi điện để vợ đi đón. Chỉ mất năm phút là tới nhà.

Đêm nay Georgette vui vẻ hôn lên má ông, một đụng chạm thể xác ấm áp. Cô bé gái Vanessa vô cùng hiếu động ôm chầm lấy ông. Hai chú chó mừng rỡ chạy quanh ông. Cilke trân trọng những giây phút như thế trong cuộc đời mình. Ông luôn cảm thấy an bình bên gia đình. Ông biết vợ rất yêu ông. Chị quý trọng tính cách của ông: làm việc có tình có lý, luôn công bằng với thuộc cấp. Ông đánh giá cao trí tuệ của chị và tin tưởng kể cho chị nghe công việc của mình. Tất nhiên, không phải là tất cả. Chị cũng luôn luôn bận rộn với công việc của mình. Chị viết về những người đàn bà nổi tiếng trong lịch sử, dạy môn đạo đức tại một trường đại học địa phương, tranh đấu cho những vấn đề xã hội mà chị quan tâm.

Lúc này Cilke quan sát vợ chuẩn bị bữa tối. Vẻ đẹp của chị luôn làm ông say mê. Ông thấy Vanessa đang dọn bàn, con bé muốn bắt chước mẹ, thậm chí còn cố đi đứng nhẹ nhàng với những bước chân uyển chuyển như một điệu ba lê. Georgette không muốn thuê người giúp việc, và chị đã nuôi dạy con trở thành một đứa trẻ không ỷ lại. Năm lên sáu, Vanesa đã biết tự dọn giường, lau nhà và giúp mẹ nấu nướng. Lúc nào cũng vậy, Cilke tự hỏi tại sao chị lại yêu ông, lại cảm thấy hạnh phúc với lựa chọn của mình.
Tới khuya, sau khi đưa Vanessa đi ngủ (Cilke kiểm tra lại chuông, cô bé có thể nhấn chuông nếu cần đến cha mẹ), họ về phòng riêng. Như mọi khi, Cilke lại bị mê hoặc khi Geprgette cởi bỏ hết quần áo. Rồi đôi mắt xám rộng mở của chị, đôi mắt rạng ngời trí tuệ, mờ đi vì yêu thương. Cuối cùng khi chìm vào giấc ngủ, chị ôm lấy tay ông để dẫn chúng vào những giấc mơ của chị.
Cilke gặp Georgette khi ông đang điều tra những tổ chức cực đoan bị tình nghi dính líu đến những hoạt động khủng bố. Chị là một nhà hoạt động chính trị giảng dạy môn lịch sử tại một trường đại học nhỏ ở New Jersey. Cuộc điều tra của ông cho thấy chị đơn giản chỉ là một người có tư tưởng tự do và không hề có liên hệ nào với các nhóm cực đoan. Cilke đã viết như vậy trong báo cáo của mình.
Khi thẩm vấn chị ông rất ngạc nhiên bởi chị không có thành kiến hay căm ghét ông - một nhân viên FBI. Thực vậy, chị có vẻ tò mò về công việc của ông. Ông nói với chị đơn giản ông là một trong những người bảo vệ xã hội. Một xã hội không thể tồn tại được nếu thiếu một vài quy định. Ông nửa đùa nửa thật nói thêm, ông là một tấm lá chắn giữa những người như chị và những kẻ muốn ăn tươi nuốt sống chị để phục vụ cho những mưu đồ riêng của họ.
Thời gian tìm hiểu thật ngắn ngủi. Họ nhanh chóng làm đám cưới. Vì biết rằng họ đối lập nhau trong hầu hết các vấn đề nên hai người tránh không để quan niệm riêng của họ ảnh hưởng đến tình yêu. Ông không chia sẻ những tín điều của chị, còn chị lại hoàn toàn ngây thơ trong thế giới của ông. Chị dứt khoát không chia sẻ với ông lòng sùng bái FBI. Nhưng chị vẫn lắng nghe những phàn nàn của ông, việc ông phẫn nộ vì danh dự của một vị thánh – J.Edga Hoover (1) - bị bôi nhọ. “Người ta mô tả ông ấy như một kẻ đồng giới, một tên cuồng tín phản động. Thật ra ông ấy là một nguời tận tâm không muốn những tư tưởng tự do phát triển”. Ông bảo chị

- Cánh nhà văn chế nhạo FBI như Gestapo hoặc KGB, nhưng bọn anh không bao giờ tra tấn, chưa bao giờ vu cáo bất cứ người nào – hoàn toàn khác cánh NYPD chứ. Đám thanh niên ở trường đại học có thể mất tự do nếu không có bọn anh. Các lực lượng cánh hữu sẽ hủy diệt chúng, chúng quá đần độn về chính trị.
Chị mỉm cười trước những xúc cảm của ông.
- Đừng mong em thay đổi, chị nói, nếu anh nói đúng thì chúng mình khỏi cãi vã nhau.
- Anh không cần em phải thay đổi, Cilke nói, và nếu FBI ảnh hưởng đến quan hệ của chúng mình thì anh sẽ tìm một việc làm khác.
Ông không hề nói với chị đó sẽ là một mất mát to lớn đối với ông.
Nhưng có bao nhiêu người nói được rằng họ hoàn toàn hạnh phúc, rằng họ có được một người bạn đời hoàn toàn đáng tin cậy? Ông là người may mắn có được cả hai yếu tố nói trên và toàn tâm toàn ý che chở cho chị, tin tưởng chị cả về thể xác lẫn tâm hồn. Từng giây từng phút chị vẫn cảm nhận được việc ông lo lắng cho sự an nguy của mình.
Khi phải đi tập huấn xa nhà Cilke nhớ vợ kinh khủng. Ông không khi nào quyến rũ những người đàn bà khác vì ông không thể phản bội chị. Ông mong đợi ngày trở về bên Georgette, được thấy nụ cười tin cậy của chị và cơ thể mời gọi của chị lúc đợi ông trong phòng ngủ, trần truồng, dễ bị tổn thương, tha thứ cho ông vì đã để công việc trở thành một thứ tôn giáo ám vào cuộc đời ông mất rồi.

Nhưng niềm hạnh phúc của ông bị ám ảnh bởi những bí mật mà ông phải giữ kín, những rắc rối nghiêm trọng trong những công việc ông thực hiện, hiểu biết của ông về một thế giới đang bị lũ người tội lỗi - cả đàn ông lẫn đàn bà – làm cho thối rữa, là những vết nhơ của nhân loại đang lan tràn. Thiếu chị, ông sống trên đời không còn ý nghĩa.

Có lần, hồi mới cưới, vì nghi ngờ tình cảm của Georgette ông đã làm một việc mà chính ông cũng lấy làm hổ thẹn. Ông đã đặt máy nghe lén trong nhà để ghi lại những gì chị nói, sau đó ông nghe băng ở dưới tầng hầm. Ông đã lắng nghe từng thay đổi trong giọng nói. Và chị đã qua được kỳ sát hạch. Chị không thâm hiểm, không nhỏ mọn hay phản phúc. Ông làm việc đó suốt một năm trời.
Đối với Cilke, việc chị yêu ông bất chấp những khiếm khuyết của ông là cả một điều kỳ diệu. Nhưng ông luôn e sợ chị sẽ phát hiện ra thực chất con người ông rồi ghê tởm ông. Và vì thế trong công việc ông càng trở nên khó tính và càng có tiếng là công bằng.
Georgette không khi nào nghi ngờ chồng. Một đêm chị đã chứng tỏ điều đó khi cùng hai mươi người khách nữa dự tiệc tại nhà ngài giám đốc.
Đêm ấy J. Edga Hoover cũng dành được chút thời gian cho riêng vợ chồng Cilke. Lão bảo Georgette
- Tôi biết cô có liên hệ với nhiều nhóm có tư tưởng tự do. Tất nhiên, cô có quyền làm như vậy. Nhưng có lẽ cô thật sự không ý thức được rằng những hành động của cô có thể hủy hoại sự nghiệp của Kurt tại Cục.
Georgette nở nụ cười với lão và nói một cách nghiêm túc
- Tôi biết chứ, nhưng đó là sai lầm và rủi ro của Cục. Tất nhiên, nếu vấn đề trở nên nghiêm trọng thì chồng tôi sẽ từ chức.
Giám đốc quay sang Cilke, ném vào mặt ông một cái nhìn đầy kinh ngạc
- Đúng vậy không? Lão hỏi. Cậu sẽ từ chức chứ?
Cilke không hề do dự

- Đúng vậy thưa ngài. Tôi sẽ nộp đơn vào sáng mai nếu ngài muốn.
Giám đốc phá lên cười.
- Ồ không, lão nói. Chẳng mấy khi chúng tôi kiếm được một người như cậu. Rồi lão nhìn Georgette với ánh mắt quý phái. Tình yêu vợ có lẽ là nơi nương náu cuối cùng của một người đàn ông trung thực.
Tất cả cùng cười cái dí dỏm có phần khiên cưỡng ấy để bảy tỏ thiện chí của mình.
 
Sửa lần cuối:

Thành viên trực tuyến

  • daongocnam0603
  • nhannhan105
  • huong_lai2212
  • vuphac
  • vanveoj
  • Tình Phạm
  • xediengiatot
  • luhai123
  • Huyền Mia
  • letranrubytran
  • Dieutamhai

Xem nhiều