Những vấn đề đáng chú ý trong Luật quản lý thuế?

  • Thread starter binyeu
  • Ngày gửi
Trạng thái
Không mở trả lời sau này.
binyeu

binyeu

Thành viên sơ cấp
9/6/07
48
0
0
36
Ha noi
#1
Có luật quản lý thuế mới ban hành có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2007 bà con chắc hẳn đã biết. Mình được biết là có Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 28/05/2007 hướng dẫn thực hiện Luật quản lý thuế có vấn đề đáng chú ý bà con có ai biết không thông tin cho mình với nhé. Cảm ơn nhiều.
:drummer:
 
NPT

NPT

Thành viên thân thiết
7/6/06
2,086
10
38
48
Rừng Tây Nguyên
#2
Có luật quản lý thuế mới ban hành có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2007 bà con chắc hẳn đã biết. Mình được biết là có Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 28/05/2007 hướng dẫn thực hiện Luật quản lý thuế có vấn đề đáng chú ý bà con có ai biết không thông tin cho mình với nhé. Cảm ơn nhiều.
:drummer:

PS. Văn bản đã có trong Thư viện
 
Sửa lần cuối bởi điều hành viên:
binyeu

binyeu

Thành viên sơ cấp
9/6/07
48
0
0
36
Ha noi
#3
Cảm ơn NPT, nhưng mình cần những vấn đề đáng chú ý trong Nghị định cơ.Nếu được có thể giúp mình không?
Cảm ơn nhiều nhé!
 
Nguyen Tu Anh

Nguyen Tu Anh

Thành viên thân thiết
23/2/05
5,609
21
38
Hà Nội - TP. HCM
#4
Những vấn đề đáng chú ý có trong cả "Chương II - Quy định cụ thể" ấy. Chả bỏ được cái nào cả nên bạn chịu khó mà xem. Có đáng chú ý hay không là do bản thân bạn tự xác định. Mục đích của bạn khi đọc Luật quản lý thuế là gì? Bạn cần tìm nội dung gì trong đó?

Bạn tự trả lời câu hỏi ấy khi đọc Nghị định 85/2007/NĐ-CP thì đó là vấn đề "đáng chú ý" của bạn.
 
binyeu

binyeu

Thành viên sơ cấp
9/6/07
48
0
0
36
Ha noi
#5
Mình đã sưu tầm được vấn đề đã đưa lần trước muốn đưa lên mọi người cùng tham khảo hy vọng là nó có ích cho chúng ta.
Những điểm cần chú ý về Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế

Ngày 28/05/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện Luật Quản lý thuế.
Về thay đổi thông tin đăng ký thuế (Điều 5):Điều này hướng dẫn thi hành Điều 27 của Luật quản lý thuế. Trong đó, quy định người nộp thuế khi chuyển địa điểm kinh doanh dẫn tới thay đổi cơ quan quản lý thuế trực tiếp thì phải nộp đủ số tiền thuế đã kê khai với cơ quan quản lý thuế, nhưng không phải quyết toán như hiện nay. Quy định này sẽ tạo điều kiện cho người nộp thuế có thể tổ chức kinh doanh được ngay và không bị gián đoạn trong kinh doanh.
Về khai thuế
Quy định mỗi điều cho một loại thuế, trong đó có quy định rõ các trường hợp khai theo tháng, quy, năm hay theo tứng lần phát sinh. Như vậy, người nộp thuế có phát sinh loại thuế nào thì chỉ phải quan tâm điều quy định về loại thuế đó, tránh được nhầm lẫn trong quá trình khai thuế, nộp thuế.Nghị định này đã quy định theo hướng cải cách thủ tục hành chính một cách triệt để trong việc khai thuế và nộp thuế. Thời hạn khai thuế cũng là thời hạn nộp thuế đã quy định cụ thể trong Luật quản lý thuế.
Về thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt (Điều 21)
Tại Điều 45 của Luật quản lý thuế quy định thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt. Trong trường hợp người nộp thuế vừa có số tiền thuế nợ, tiền thuế truy thu, tiền thuế phát sinh, tiền phạt thì việc thanh toán được thực hiện theo thứ tự nộp tiền thuế nợ trước, tiếp đến tiền thuế truy thu, tiền thuế phát sinh, tiền phạt. Quy định này tạo thuận lợi cho người nộp thuế giảm mức tiền phạt nợ thuế (nếu có). Để thực hiện tốt quy định này của Luật quản lý thuế, Nghị định quy định việc mở tài khoản thuế của cơ quan quản lý thuế tại Kho bạc Nhà nước. Đây là hoạt động nghiệp vụ cần thiết, Bộ Tài chính sẽ hướng dẫn cụ thể về việc thanh toán tiền thuế đã nộp, chuyển tiền thuế vào NSNN theo quy định của pháp luật.
Về xử lý số tiền thuế nộp thừa, số tiền thuế được hoàn (Điều 22)
Điều này hướng dẫn thực hiện Điều 47 của Luật quản lý thuế và quy định cụ thể nội dung số tiền thuế được coi là nộp thừa và người nộp thuế có quyền lựa chọn trừ vào số thuế phải nộp của kỳ tiếp theo, hoặc yêu cầu Nhà nước hoàn trả. Việc quy định được bù trừ với số thuế phải nộp giữa các loại thuế như trên tuy có làm tăng thêm khối lượng công việc cho cơ quan quản lý thuế nhưng tạo thuận lợi hơn cho người nộp thuế.
Về nộp thuế trong thời gian giải quyết khiếu nại, khởi kiện (Điều 23)
Điều này hướng dẫn thực hiện Điều 48 của Luật quản lý thuế. Trong đó, quy định việc xác định tiền lãi cơ quan quản lý thuế phải trả cho người nộp thuế khi xác định sai số thuế phải nộp, căn cứ vào lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố để bảo đảm tính khách quan và Vềbảo đảm quyền lợi cho người nộp thuế.
Về ấn định thuế (các điều 25,,26, 27):
Việc ấn định thuế liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế. Do đó, Nghị định đã quy định rõ ràng, minh bạch các trường hợp ấn định thuế, tránh việc lạm dụng quyền hạn của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế.Trường hợp cơ quan quản lý thuế ấn định sai số thuế phải nộp, gây thiệt hại cho người nộp thuế thì phải hoàn trả và bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế.
Về trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế (các điều 29, 30, 31, 32):
Nghị định này quy định trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp người nộp thuế xuất cảnh; DN giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động hoặc tổ chức lại. Cụ thể một số trường hợp sau:
- Người nộp thuế trước khi xuất cảnh, phải hoàn thành nghĩa vụ thuế của mình. Trong trường hợp người nộp thuế chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, cơ quan quản lý thuế có quyền yêu cầu cơ quan quản lý xuất nhập cảnh dừng việc xuất cảnh của cá nhân đó.
- Việc hoàn thành nghĩa vụ thuế của DN giải thể, phá sản được thực hiện theo pháp luật về giả thể, phá sản.
- DN có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cảu mình trước khi chia tách, hợp nhất, sáp nhập. Nếu DN chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, thì các DN mới hình thành từ việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ thuế của cá DN đó.
- DN chấm dứt hoạt động không theo quy định của pháp luật thì chủ DN có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của DN.
Về trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong việc giải quyết hồ sơ hoàn thuế (Điều 33)
Điều này hướng dẫn điểm a khoản 1 Điều 60 của Luật quản lý thuế. Nghị định đã quy định chi tiết việc phân loại hồ sơ thành 2 loại:
- Hoàn thuế trước kiểm tra sau được áp dụng đối với hồ sơ của người nộp thuế tuân thủ tốt pháp luật thuế, để rút ngắn thời gian giải quyết hoàn thuế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người nộp thuế.
- Kiểm tra trước hoàn thuế sau được áp dụng đối với các trường hợp người nộp thuế không tuân thủ tốt pháp luật thuế hoạc đối với các hồ sơ hoàn thuế của mặt hàng có yêu cầu quản lý nhà nước về chính sách mặt hàng theo từng giai đoạn.
Về xác định số thuế được miễn, được giảm (Điều 34)
Điều này hướng dẫn khoản 3 Điều 62 của Luật quản lý thuế. Về nguyên tắc, người nộp thuế căn cứ vào các luật thuế, pháp lệnh thuế, tợ xác định số thuế được miễn, được giảm khi khai thuế, nhằm giảm thủ tục phiền hà cho người nộp thuế.
Thông tin về người nộp thuế (các điều 35, 36, 37, 38).
Nghị định quy định trách nhiệm cung cấp thông tin về người nộp thuế của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân nhằm tạo môi trường quản lý thuế văn minh, nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý thuế.Về nguyên tắc, thông tin về người nộp thuế được bảo mật. Cơ quan quản lý thuế chỉ được công khai thông tin về người nộp thuế trong trường hợp họ vi phạm pháp luật về thuế.
Về thanh tra thuế (các điều 39, 40, 41, 42, 43, 44).
Nghị định quy định về các trường hợp thanh tra thuế, kế hoạch thanh tra thuế, thanh tra viên thuế, thủ tục áp dụng các biện pháp trong thanh tra thuế đối với trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế như: thu thập thông tin, tạm giữ tang vật, tài liệu liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lân thuế, khám nơi cất giấu tang vật, tài liệu.Nghị định có một số quy định cụ thể để tránh chồng chéo trong hoạt động thanh tra.
Về khiếu nại, tố cáo, khởi kiện (các điều 45, 46, 47, 48, 49).
Nghị định quy định cụ thể các nội dung sau: quyền khiếu nại của người nộp thuế, tổ chức, cá nhân; thẩm quyền giải quyết khiếu nại của cơ quan quản lý thuế các cấp; thời hạn, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo; khởi kiện; trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý thuế trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế.Nghị định này chỉ quy định một số nội dung mang tính đặc thù trong công tác quản lý thuế, còn các nội dung khác về khiếu nại, tố cáo, khởi kiện, Nghị định quy định mang tính dẫn chiếu để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
 
V

Vua_ga

Thành viên sơ cấp
24/8/07
7
0
0
18
Vietnam
#6
Theo luật quản lý thuế mới thì hình nhu doanh nghiệp được bù trừ giứa các loại thuế. Không biết đã có ai làm chưa? Các anh chị có thông tin gì thêm thì cho mình biết với, bên mình đang bị mắc về vấn đề này???
 
Nguyen Tu Anh

Nguyen Tu Anh

Thành viên thân thiết
23/2/05
5,609
21
38
Hà Nội - TP. HCM
#7
Thuế nào nó đi đằng thuế ấy chứ bác. Nếu nói như bác, được bù trừ các loại thuế với nhau trong mọi trường hợp thì chỉ nên quy định ra 1 loại thuế thôi.

Quy định bù trừ giữa các loại thuế với nhau khi bác nộp thuế thừa cho Nhà nước thôi.

Theo luật quản lý thuế mới thì hình nhu doanh nghiệp được bù trừ giứa các loại thuế. Không biết đã có ai làm chưa? Các anh chị có thông tin gì thêm thì cho mình biết với, bên mình đang bị mắc về vấn đề này???
 
Trạng thái
Không mở trả lời sau này.

Thành viên trực tuyến

  • Quỳnh Béo
  • Vu Sakura
  • daongocnam0603
  • quanglinh92
  • tokien
  • Lánh lùn
  • mhaaa
  • songkhue105
  • xediengiatot
  • YÊN QUỐC
  • PhươngNguyễnbg

Xem nhiều