Việc góp vốn vào công ty thì theo điều lệ của Công ty. Tuy nhiên, số vốn góp ban đầu tối thiểu phải bằng vốn pháp định (Vốn pháp định là bao nhiêu còn tuỳ vào lĩnh vực kinh doanh - Luật doanh nghiệp có quy định cụ thể). Số còn thiếu được góp dần theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông (được ghi trong điều lệ). Nếu đến thời hạn góp vốn mà có thành viên nào chưa góp các thành viên khác sẽ thoả thuận chia nhau để góp cho đủ; Nếu không góp đủ, thì Công ty phải đăng ký kinh doanh lại để giảm vốn điều lệ.
Việc góp vốn của các cổ đông được theo dõi ở sổ góp vốn cổ đông (không nên treo gác trên sổ kế toán).
Khi thu tiền (hay tài sản) góp vốn hạch toán Nợ 111,112, 211,...
Có 411
Đồng thời ghi sổ góp vốn cổ đông: Ông A góp vốn.
Bạn chỉ cần lưu ý rằng: Khi vốn điều lệ chưa góp đủ thì toàn bộ chi phí lãi vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh của Công ty là chi phí không hợp lý khi quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp.
Có nhiều doanh nghiệp chưa góp vốn đủ nhưng trên sổ sách vẫn thể hiện là đã thu đủ tiền góp vốn (bằng cách treo một loạt nợ ảo). Như thế là lừa đảo, trách nhiệm pháp lý của kế toán rất cao (trong trường hợp doanh nghiệp này phá sản hoặc bị cơ quan công an pháp hiện).
Mình rất tán thành quan điểm của bạn. Nhưng có một vấn đề cũng đang xảy ra ở một số DN vừa và nhỏ mà mình còn thắc mắc
Số vốn pháp định tối thiểu của các DN nhỏ là 900tr VNĐ. Thường thì một số DN không sử dụng vốn lớn đăng ký vốn điều lệ = vốn pháp định = 900tr. Biên bản góp vốn gồm một hoặc nhiều cá nhân đủ = 900tr. Hạch toán đúng Nợ111, 112 Có 411 900tr. Nhưng thực tế không sử dụng hết khoản vốn này. VD như 1 Cty tư vấn, vốn đầu tư chính là chất xám còn tiền lưu thông không đáng kể tức là lúc nào quỹ cũng tồn khoảng 400-500tr. Thực ra thì không có số tiền nhiều như thế, có thật thì đã gửi NH. Vậy theo bạn khoản tồn quỹ lớn như thế có vấn đề gì không?

