tôi không ngĩ thế! Trong thanh toán thì trước tiên có thể thỏa thuận tỷ giá tạm tính, sau này thanh toán thực tế thì sẽ lấy tỷ giá của thời điểm thanh toán. Tỷ giá thường được lấy theo tỷ giá ngân hàng của Vietcombank. Hoặc tỷ giá theo ngân hàng cả 2 bên cùng đồng thuận
tỷ giá thỏa thuận theo tôi nghĩ như là một trường hợp bên mua có thể thanh toán bằng USD hoặc thanh toán bằng vnđ (đều là doanh nghiệp vn)
Vì vậy tại thời điểm phát sinh công nợ 2 bên sẽ thỏa thuận tỷ giá để bên mua hoặc sẽ trả bằng $ hoặc sẽ trả bằng vnđ.
Các bạn sẽ cho rằng: bên mua sẽ chọn cách thanh toán có lợi nhưng bên bạn cũng sẽ chọn tỷ giá có lợi cho họ khi thỏa thuận tỷ giá.
Cũng có một số trường hợp là hợp đồng ngoại thương được phép thanh toán bằng nội tệ thì có thể 2 bên thỏa thuận tỷ giá để thanh toán.
đến đây! xuất hiện câu hỏi về hoạch toán trường hợp này! khi ghi nhận nợ bên mua sẽ ghi nhận nợ theo đúng bằng tỷ giá thỏa thuận x số lượng x giá bằng usd
khi trả nợ người mua sẽ trả bằng vnđ nếu tỷ giá usd tăng so với tỷ giá thỏa thuận ban đầu thì không vấn đề gì!
nhưng khi giá usd xuống như đợt vừa rồi
thì bên mua sẽ chỉ phải trả phần thấp hơn do mua USD để trả
Nợ 1112: mua USD
Có 1111
Trả nợ
Nợ 331
Có 1112
Có 515 Phần chênh lệch;
thế thôi ạ! Thế thì ở đây 331 tại thời điểm ghi nhận nợ cũng nên hiểu nó là lưỡng tính giữa ngoại tệ và nội tệ ạ. Vì có người cho rằng nếu ghi nhận như tôi nói thì sẽ thừa nhận nó không phải có nguồn gốc ngoại tệ đến khi phát sinh chênh lệch thì lại đưa 515 vào là sa0???