Các vấn đề liên quan đến chi phí hợp lý khi tính Thuế TNDN

  • Thread starter pnphuong
  • Ngày gửi
P

pnphuong

NHẪN
12/12/02
610
7
18
Hanoi
Công văn của Tổng cục Thuế số 3761/TCT-CS ngày 06 tháng 10 năm 2008 V/v điều kiện thanh toán bù trừ bằng hàng và xác định thu nhập chịu thuế.





Kính gửi: Cục thuế tỉnh Tây Ninh.

Trả lời công văn số 1883/CT-TTr ngày 06/5/2008 của Cục thuế tỉnh Tây Ninh về vướng mắc điều kiện thanh toán bù trừ bằng hàng và xác định thu nhập chịu thuế, Tổng cục thuế có ý kiến như sau:
1.Tại điểm 1..2d3 mục III phần B Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn: “Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ tài khoản của bên nhập khẩu sang ngân hàng của bên xuất khẩu để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ cho bên xuất khẩu theo các hình thức thanh toán phù hợp với thoả thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng.
Trường hợp hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu thanh toán bằng hàng là trường hợp xuất khẩu hàng hoá (kể cả gia công hàng hoá xuất khẩu), dịch vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài (gọi tắt là phía nước ngoài) nhưng việc thanh toán giữa doanh nghiệp Việt Nam và phía nước ngoài bằng hình thức bù trừ giữa giá trị hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, tiền gia công hàng hoá xuất khẩu với giá trị hàng hoá, dịch vụ mua của phía nước ngoài.
Hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu thanh toán bằng hàng phải có thêm thủ tục hồ sơ như sau:
* Phương thức thanh toán đối với hàng xuất khẩu bằng hàng phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu.
* Hợp đồng mua hàng hoá, dịch vụ của phía nước ngoài.
* Tờ khai hải quan về hàng hoá nhập khẩu thanh toán bù trừ với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu.
* Văn bản xác nhận với phía nước ngoài về việc số tiền thanh toán bù trừ giữa hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu với hàng hoá nhập khẩu, dịch vụ mua của phía nước ngoài.
* Trường hợp sau khi thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu và giá trị hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu có chênh lệch, số tiền chênh lệch phải thực hiện thanh toán qua ngân hàng.''
Căn cứ hướng dẫn trên, trường hợp Công ty TNHH săm lốp xe Hồng Phúc (Công ty Hồng Phúc) mua nguyên liệu nhập khẩu từ Công ty Linh Fortune Rubber Works (cung cấp nguyên liệu để sản xuất vỏ xe) và Công ty Weihomg Rubber Industrial Co.Ltd (cung cấp nguyên liệu để sản xuất ruột xe); hợp đồng mua hàng nhập khẩu được ký kết theo từng lần nhập khẩu hàng hoá, kèm theo tờ khai hải quan; phương thức thanh toán được quy định trong hợp đồng là thanh toán qua ngân hàng.
Công ty TNHH săm lốp xe Hồng Phúc đồng thời xuất khẩu cho 02 Công ty trên, xuất khẩu vỏ xe cho Công ty Linh Fortune Rubber Works và xuất khẩu ruột xe cho Công ty Weihomg Rubber Industrial Co.Ltd; hợp đồng xuất khẩu được ký kết theo từng lần xuất khẩu hàng hoá, kèm theo tờ khai hải quan; phương thức thanh toán được quy định trong hợp đồng là thanh toán qua ngân hàng được trả chậm trong thời gian 06 tháng.
Theo báo cáo của Cục thuế, trên thực tế kiểm tra thì việc thanh toán nguyên liệu nhập khẩu và thành phẩm xuất khẩu của Công ty Hồng Phúc với 02 Công ty trên là thanh toán theo phương thức bù trừ giữa nguyên liệu nhập khẩu với hàng hoá xuất khẩu, phần chênh lệch mới được thanh toán qua ngân hàng. Việc thanh toán giữa Công ty Hồng phúc với phía nước ngoài bằng hình thức bù trừ giữa giá trị nguyên liệu nhập khẩu với giá trị hàng xuất khẩu không được quy định trong hợp đồng xuất khẩu theo hướng dẫn trên, do đó, Công ty Hồng Phúc không đủ điều kiện, thủ tục để được áp dụng thuế suất 0%.
2. Tại điểm 6 mục IV phần D Thông tư số 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNDN quy định: ''Cơ quan thuế có quyền xác định giá mua, giá bán theo giá thị trường trong nước và ngoài nước, chi phí, thu nhập chịu thuế và các yếu tố khác đảm bảo thu đúng, thu đủ thuế TNDN, nếu phát hiện giá mua, giá bán, chi phí kinh doanh, thu nhập chịu thuế và các yếu tố khác của cơ sở kinh doanh không đúng với giá cả thị trường và các chi phí thực tế phát sinh.
Việc xác định giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ theo giá thị trường trong nước và ngoài nước, chi phí, thu nhập chịu thuế để đảm bảo thu đúng, thu đủ thuế TNDN được thực hiện theo văn bản hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính''.
Việc xác định lại giá mua, giá bán để thu đúng, thu đủ thuế thu nhập doanh nghiệp được thực hiện theo các nguyên tắc hướng dẫn tại Thông tư số 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết. Từ ngày 1/07/2007, thực hiện theo quy định tại Điều 36 Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Căn cứ hướng dẫn trên, trường hợp trong các năm 2005, 2006, Công ty Hồng Phúc xuất khẩu cho Công ty mẹ với giá bán thấp hơn giá vốn dẫn đến tổng số lỗ phát sinh trong 2 năm 2005, 2006 là trên 77 tỷ đồng thì cơ quan thuế căn cứ vào các nguyên tắc hướng dẫn tại Thông tư số 117/2005/TT-BTC nêu trên để xác định lại giá mua, giá bán để thu đúng, thu đủ thuế TNDN.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế tỉnh Tây Ninh được biết./.



Tổng cục Thuế -Phạm Duy Khương
 
Khóa học Quản trị dòng tiền
P

pnphuong

NHẪN
12/12/02
610
7
18
Hanoi
Công văn của Tổng cục Thuế số 3705 /TCT-CS ngày 02 tháng 10 năm 2008 V/v trả lời chính sách thuế TNDN.




Kính gửi: Cục thuế tỉnh Cà Mau.
Trả lời công văn số 732/CT-TTrT ngày 13/6/2008 của Cục thuế tỉnh Cà Mau hỏi về chính sách thuế TNDN, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
l) Về định mức hao hụt:
Tại điểm 2.2 mục III Phần B Thông tư số 134/2007/TT-BTC ngày 23/11/2007 của Bộ Tài chính về thuế TNDN quy định: Những khoản chi phí sau đây không tính vào chi phí hợp lý: ''Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hoá phần vượt mức tiêu hao hợp lý, bị tổn thất hoặc bị hư hỏng đã được các tổ chức, cá nhân bồi thường.
Mức tiêu hao hợp lý nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, hàng hoá sử dụng vào sản xuất, kinh doanh do cơ sở kinh doanh tự xây dựng. Mức tiêu hao hợp lý được xây dựng từ đầu năm hoặc đầu kỳ sản xuất sản phẩm. Trường hợp một số nguyên liệu, vật liệu nhiên liệu, hàng hoá Nhà nước đã ban hành định mức tiêu hao thì thực hiện theo định mức của Nhà nước đã ban hành. Trường hợp cơ sở kinh doanh không xây dựng mức tiêu hao hợp lý thì mức tiêu hao được xác định căn cứ vào định mức tiêu hao của cơ sở kinh doanh cùng ngành nghề, lĩnh vực, quy mô tương tự''.
Căn cứ quy định nêu trên, doanh nghiệp chỉ được tính vào chi phí nguyên liệu, vật liệu nhiên liệu, năng lượng, hàng hoá theo mức tiêu hao hợp lý. Trường hợp cơ sở kinh doanh không xây dựng mức tiêu hao hợp lý và các cơ quan quán lý cũng không ban hành định mức hao hụt thì mức tiêu hao được xác định căn cứ vào định mức tiêu hao của cơ sở kinh doanh cùng ngành nghề, lĩnh vực, quy mô tương tự.
2) Về xác định giá vốn tôm nguyên liệu
Tại điểm 2.4 mục III Phần B Thông tư số 134/2007/TT-BTC quy định: Những khoản chi phí sau đây không tính vào chi phí hợp lý: ''Chi phí của cơ sở kinh doanh mua hàng hoá, dịch vụ không có hoá đơn, được phép lập Bảng kê thu mua hàng hoá, dịch vụ mua vào (theo mẫu số 0 l/TNDN kèm theo Thông tư này) nhưng không lập Bảng kê kèm theo chứng từ thanh toán cho cơ sở, người bán hàng, cung cấp dịch vụ trong các trường hợp: mua sản phẩm làm bằng mây, tre, cói, dừa, cọ, của người nông dân trực tiếp làm ra; mua sản phẩm thủ công mỹ nghệ của các nghệ nhân không kinh doanh; mua đất, đá, cát, sỏi của người dân tự khai thác; mua nông, lâm, thuỷ sản của người sản xuất, đánh bắt bán ra; mua phế liệu của người trục tiếp thu nhặt, mua đồ dùng, tài sản của hộ gia đình, cá nhân đã qua sử dụng trực tiếp bán ra và một số dịch vụ mua của cá nhân không kinh doanh.
Bảng kê thu mua hàng hoá, dịch vụ do người đại diện theo pháp luật của cơ sở kinh doanh ký và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực. Trường hợp giá mua hàng hoá, dịch vụ trên bảng kê cao hơn giá thị trường tại thời điểm mua hàng thì cơ quan thuế căn cứ vào giá thị trường tại thời điểm mua hàng, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự trên thị trường xác dịch lại mức giá để tính lại chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế''.
Căn cứ quy định nêu trên, cơ sở kinh doanh mua nông lâm, thuỷ sản trực tiếp của người sản xuất, đánh bắt bán ra được lập Bảng kê hạch toán vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế. Trường hợp giá mua hàng hoá, dịch vụ trên bảng kê cao hơn giá thị trường tại thời điểm mua hàng thì cơ quan thuế căn cứ vào giá thị trường tại thời điểm mua hàng, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự trên thị trường xác định lại mức giá để tính lại chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế.
3) Về việc phân biệt và xuất hoá đơn giữa mua tôm nguyên liệu với mua thành phẩm: Tổng cục Thuế ghi nhận ý kiến đóng góp của Cục thuế và sẽ nghiên cứu, có chính sách sửa đổi bổ sung phù hợp.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế biết./.


 
P

pnphuong

NHẪN
12/12/02
610
7
18
Hanoi
Công văn của Tổng cục Thuế số 3700/TCT-CS ngày 02/10/2008 về việc chi phí hợp lý




Kính gửi: Cục thuế thành phố Hà Nội
Trả lời công văn số 12081/CT-TTr2 ngày 01/9/2008 của Cục thuế thành phố Hà Nội hỏi về chi phí lãi vay để góp vốn hợp tác liên doanh, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại điểm 7 mục III phần B Thông tư số 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp về những khoản chi phí được tính vào chi phí hợp lý.
“7. Chi trả lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế theo lãi suất thực tế căn cứ vào hợp đồng vay. Chi trả lãi tiền vay của các đối tượng khác theo lãi suất thực tế khi ký hợp đồng vay, nhưng tối đa không quá 1,2 lần mức lãi suất cho vay cùng thời điểm của ngân hàng thương mại có quan hệ giao dịch với cơ sở kinh doanh.
Các khoản chi phí trả lãi tiền vay để góp vốn pháp định, vốn điều lệ, cơ sở kinh doanh không được tính vào chi phí hợp lý để xác định thu nhập chịu thuế.”
Tại điểm 2, Mục III phần B Thông tư số 134/2007/TT-BTC ngày 23/11/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hướng dẫn về những khoản chi phí không tính vào chi phí hợp lý:
“2.16. Phần chi phí lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức tín dụng, các tổ chức tài chính vượt mức lãi suất thực tế căn cứ vào hợp đồng vay. Phần chi phí lãi tiền vay của các đối tượng khác vượt mức lãi suất thực tế căn cứ vào hợp đồng vay hoặc phần chi phí lãi tiền vay vượt quá 1,2 lần mức lãi suất cho vay cao nhất cùng thời điểm của tổ chức tín dụng mà cơ sở kinh doanh có quan hệ giao dịch.
Các khoản chi trả lãi tiền vay để góp vốn điều lệ hoặc chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ đã đăng ký còn thiếu kể cả trường hợp cơ sở kinh doanh đã đi vào sản xuất kinh doanh”.
Căn cứ các hướng nêu trên, trường hợp Công ty Cổ phần Kỹ thuật Hà Nội và Công ty Quảng Cáo Thương mại Công Minh vay vốn để hợp tác kinh doanh không thành lập thêm một pháp nhân mới thì phần vốn vay không phải để góp vốn điều lệ. Nếu phần chi phí lãi tiền vay không vượt quá 1,2 lần mức lãi suất cho vay cao nhất cùng thời điểm của tổ chức tín dụng mà cơ sở kinh doanh có quan hệ giao dịch thì được tính vào chi phí hợp lý khi quyết toán thuế TNDN.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế biết và thực hiện./.


 
P

pnphuong

NHẪN
12/12/02
610
7
18
Hanoi
Công văn của Tổng cục Thuế số 3688/TCT-CS ngày 02/10/2008 về việc khấu hao TSCĐ




Kính gửi: Cục thuế tỉnh Đăk Nông.
Trả lời công văn số 837/CT-KK&KTT ngày 18/6/2006 của Cục thuế tỉnh Đăk Nông về chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không có hoá đơn, chứng từ, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại điểm 2.1.b Mục III Phần B Thông tư số 134/2007/TT-BTC ngày 23/11/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNDN quy định khoản chi phí không được tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế như sau: “Chi phí khấu hao đối với TSCĐ không có giấy tờ chứng minh được thuộc quyền sở hữu của cơ sở kinh doanh”.
Tại khoản 4 Điều 4 Mục II Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định ban hành kèm theo Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính quy định: “Nguyên giá TSCĐ của cá nhân, hộ kinh doanh cá thể thành lập doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần mà không còn hoá đơn, chứng từ là giá trị hợp lý do doanh nghiệp tự xác định tại thời điểm đăng ký kinh doanh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của giá trị đó.
Trường hợp giá trị TSCĐ do doanh nghiệp tự xác định lớn hơn so với giá bán thực tế của TSCĐ cùng loại hoặc tương đương trên thị trường, thì doanh nghiệp phải xác định lại giá trị hợp lý của TSCĐ làm căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp; nếu giá trị TSCĐ vẫn chưa phù hợp với giá bán thực tế trên thị trường, cơ quan thuế có quyền yêu cầu doanh nghiệp xác định lại giá trị của TSCĐ thông qua Hội đồng định giá ở địa phương hoặc tổ chức có chức năng thẩm định giá theo quy định của pháp luật”.
Căn cứ quy định nêu trên, về nguyên tắc TSCĐ phải đáp ứng được yêu cầu có đầy đủ hoá đơn, chứng từ chứng minh được thuộc quyền sở hữu của cơ sở kinh doanh thì mới được trích khấu hao vào chi phí hợp lý được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Nếu TSCĐ của doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng không có đầy đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định thì có hai trường hợp:
- Trường hợp TSCĐ của cá nhân, hộ kinh doanh cá thể thành lập doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần mà không có hoá đơn, chứng từ thì được trích khấu hao TSCĐ vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN với nguyên giá được xác định theo nguyên tắc quy định tại khoản 4 Điều 4 Mục II Chệ độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định nêu trên.
- Đối với các tổ chức kinh doanh khác không thuộc đối tượng áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 4 Mục II Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định nêu trên thì cơ sở kinh doanh không được trích khấu hao TSCĐ vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN đối với TSCĐ không có đầy đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế tỉnh Đăk Nông biết và hướng dẫn đơn vị./.


 
P

pnphuong

NHẪN
12/12/02
610
7
18
Hanoi
Công văn của Tổng cục Thuế số 3681/TCT-HT ngày 02/10/2008 về việc chi phí tính thuế thu nhập doanh nghiệp




Kính gửi: Công ty XNK Intimex
(96 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội)
Trả lời công văn số 482/INT-TCKT ngày 8/7/2008 của Công ty xuất nhập khẩu Intimex về việc xác định chi phí tính thuế thu nhập doanh nghiệp, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Về những khoản chi phí chuyển quyền sử dụng đất được tính vào chi phí hợp lý để tính thuế thu nhập doanh nghiệp từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất, Cục thuế thành phố Hà Nội đã có công văn số 8123/CT-HTr ngày 24/6/2008 gửi Công ty xuất nhập khẩu Intimex về việc xác định giá vốn đất.
Đối với tiền phí dịch vụ của hợp đồng kiện đòi nợ, lãi vay ngân hàng của khoản vay để ứng trước tiền hàng cho chi nhánh mà không phải để góp vốn điều lệ hoặc chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ đã đăng ký còn thiếu nếu có đầy đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định thì được tính vào chi phí hợp lý để tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn tại Mục III Phần B Thông tư số 134/2007/TT-BTC ngày 23/11/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14/2/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tổng cục Thuế thông báo để Công ty được biết./.


 
P

pnphuong

NHẪN
12/12/02
610
7
18
Hanoi
Công văn của Tổng cục Thuế số 3583/TCT-CS ngày 24/9/2008 v/v hạch toán chi phí đối với lãi tiền vay




Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Bắc Giang
Trả lời công văn số 1159/CT-TTr ngày 24/07/2008 của Cục thuế tỉnh Bắc Giang hỏi về việc hạch toán chi phí đối với khoản lãi tiền vay trong trường hợp đơn vị chưa góp đủ vốn pháp định, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Về việc chưa góp đủ vốn pháp định của Công ty cổ phần sản xuất và XNK Thành Công (từ năm 2004 đến năm 2006 chưa góp được 1/10 vốn điều lệ):
Tại Khoản 4, Điều 11, Chương I, Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH 11 ngày 29/11/2005 của Quốc Hội quy định:
“Điều 11 Các hành vi bị cấm
4. Kê khai khống vốn đăng ký, không góp đủ và đúng hạn số vốn như đã đăng ký; cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị thực tế”.
Căn cứ quy định nêu trên, đề nghị Cục thuế tỉnh Bắc Giang có văn bản trao đổi với cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh Bắc Giang trong việc cấp phép, có chế tài xử lý vấn đề này.
2. Về vấn đề hạch toán chi phí đối với lãi tìền vay trong trường hợp đơn vị chưa góp đủ vốn điều lệ:
Tại Điểm 7, Mục III, Phần B, Thông tư số 128/2003/TT-BTC .ngày 22/12/2003 của Bộ Tài chính quy định: “Các khoản chi phí trả 1ãi tiền vay để góp vốn pháp định, vốn điều lệ, cơ sở kinh doanh không được tính vào chi phí hơp lý để xác định thu nhập chịu thuế”.
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp doanh nghiệp thực hiện vay vốn trong khi chưa góp đủ vốn pháp định, vốn điều lệ thì khoản trả lãi tiền vay tương ứng với số vốn pháp định, vốn điều lệ chưa góp đủ không được tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN, không phân biệt vay vốn để góp đủ vốn pháp định, vốn điều lệ, mua sắm tài sản hay phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Đề nghị Cục thuế tỉnh Bắc Giang căn cứ các văn bản hướng dẫn hiện hành và tình hình thực tế để hướng dẫn đơn vị./.


 

Xem nhiều