Theo mình, "Vốn tự có" ở đây chẳng qua chỉ là Vốn cổ đông, đối trọng của nó là Vốn vay.
Trong cơ cấu Vốn đầu tư thì xem như có 2 thành phần chính kể trên.
Với vốn vay thì tương đối dễ tính toán, do dựa vào lãi suất vay thực tế.
Trong Vốn cổ đông, phần Trái phiếu được tính như Vốn vay, phần Cổ phiếu ưu đãi thì đã có xác định khoản thu nhập hàng kỳ như được cam kết.
Vấn đề còn lại là, Vốn cổ phần thường. Phương pháp được biết cho đến nay là "giả định" dòng Cổ tức hàng năm và "giả định" đó là dòng tiền đều. Do biết được thị giá hiện tại của Cổ phiếu thường nên có thể tính ra được mức lãi suất kỳ vọng của nó, chính là cái bạn đang gọi là "lãi suất của Vốn tự có". (Trường hợp cổ phiếu chưa niêm yết thì phải dựa vào sự so sánh các điều kiện tương đồng, thêm một chút điều chỉnh theo đặc thù).
Ý nghĩa của nó, nói ngắn gọn, chính là để xác định lãi suất kỳ vọng của nhà đầu tư. Một trong những ứng dụng của nó là để thẩm định dự án đầu tư. Còn sự phụ thuộc của nó thì như trên cũng đã nêu khái quát một số vấn đề rồi đó: giá thị trường của cổ phiếu, các yếu tố điều chỉnh giá...