Cơ quan thuế có quyền yêu cầu ngân hàng cung cấp tài liệu liên quan đến doanh nghiệp không?

  • Thread starter tamnt07
  • Ngày gửi
tamnt07

tamnt07

Sống đơn giản, lấy nụ cười làm căn bản!
21/3/07
5,693
643
113
The Capital
Cho hỏi khi quyết toán thuế TNDN (hoặc một vấn đề nào đó liên quan đến thuế) thì cơ quan thuế có quyền yêu cầu ngân hàng cung cấp số liệu liên quan đến doanh nghiệp hay không?
Trong luật thuế TNDN 09/2003/QH11 (điều 15 chương III) thì có ghi có quyền yêu cầu ngân hàng, cơ quan tín dụng cung cấp tài liệu nhưng luật thuế này đã hết hiệu lực, trong luật thuế TNDN mới thì không đề cập đến.
Không biết có văn bản pháp luật nào còn hiệu lực quy định về vấn đề này không nhỉ?
 
Khóa học Quản trị dòng tiền
T

Trnghia

Trung cấp
29/11/08
134
1
18
42
Vung Tau
Cho hỏi khi quyết toán thuế TNDN (hoặc một vấn đề nào đó liên quan đến thuế) thì cơ quan thuế có quyền yêu cầu ngân hàng cung cấp số liệu liên quan đến doanh nghiệp hay không?
Trong luật thuế TNDN 09/2003/QH11 (điều 15 chương III) thì có ghi có quyền yêu cầu ngân hàng, cơ quan tín dụng cung cấp tài liệu nhưng luật thuế này đã hết hiệu lực, trong luật thuế TNDN mới thì không đề cập đến.
Không biết có văn bản pháp luật nào còn hiệu lực quy định về vấn đề này không nhỉ?

Mình xin nói là hoàn toàn đc bạn à. Cơ quan thuế hoàn toàn có quyền yêu cầu các bên kinh doanh có làm ăn với doanh nghiệp giúp đỡ(các hoá đơn, hợp đồng, UNC...).:wall:
 
thanhvunt

thanhvunt

http://thanhvunt.com
22/1/06
2,076
10
0
Nha Trang
thanhvunt.com
Cho hỏi khi quyết toán thuế TNDN (hoặc một vấn đề nào đó liên quan đến thuế) thì cơ quan thuế có quyền yêu cầu ngân hàng cung cấp số liệu liên quan đến doanh nghiệp hay không?
Cơ quan thuế có quyền yêu cầu nhưng Ngân hàng có trách nhiệm cung cấp hay không lại là chuyện hoàn toàn khác.

Tương tự, luật báo chí cho phép cơ quan báo chí có quyền yêu cầu cơ quan thuế cung cấp thông tin về thuế của một doanh nghiệp nào đó nhưng trách nhiệm của cơ quan thuế có nghĩa vụ phải cung cấp cho báo chí biết hay không lại là chuyện khác.
 
L

lchi62

Guest
18/2/08
10
0
0
Cao bằng
Điều 72. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc cung cấp thông tin về người nộp thuế

1. Các cơ quan sau đây có trách nhiệm cung cấp thông tin về người nộp thuế cho cơ quan quản lý thuế:

a) Cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cơ quan cấp giấy phép thành lập và hoạt động có trách nhiệm cung cấp thông tin về nội dung giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy chứng nhận thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh của tổ chức, cá nhân cho cơ quan quản lý thuế trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy chứng nhận thay đổi đăng ký kinh doanh; cung cấp thông tin khác theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế;

b) Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý thuế về số tiền thuế đã nộp, đã hoàn của người nộp thuế.

2. Các cơ quan sau đây có trách nhiệm cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế:

a) Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác có trách nhiệm cung cấp nội dung giao dịch qua tài khoản của người nộp thuế trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan quản lý thuế;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về nhà, đất có trách nhiệm cung cấp thông tin về hiện trạng sử dụng đất, sở hữu nhà của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân;

c) Cơ quan công an có trách nhiệm cung cấp, trao đổi thông tin liên quan đến đấu tranh phòng, chống tội phạm về thuế; cung cấp thông tin về cá nhân xuất cảnh, nhập cảnh và thông tin về đăng ký, quản lý phương tiện giao thông;

d) Cơ quan chi trả thu nhập có trách nhiệm cung cấp thông tin về chi trả thu nhập và số tiền thuế khấu trừ của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế;

đ) Cơ quan quản lý thương mại có trách nhiệm cung cấp thông tin về chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh của Việt Nam và nước ngoài; thông tin về quản lý thị trường.
 
L

lchi62

Guest
18/2/08
10
0
0
Cao bằng
Điều 72 Luật Quản lý Thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 năm 2006
Điều 72. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc cung cấp thông tin về người nộp thuế:
1. Các cơ quan sau đây có trách nhiệm cung cấp thông tin về người nộp thuế cho cơ quan quản lý thuế:

a) Cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cơ quan cấp giấy phép thành lập và hoạt động có trách nhiệm cung cấp thông tin về nội dung giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy chứng nhận thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh của tổ chức, cá nhân cho cơ quan quản lý thuế trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy chứng nhận thay đổi đăng ký kinh doanh; cung cấp thông tin khác theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế;

b) Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý thuế về số tiền thuế đã nộp, đã hoàn của người nộp thuế.

2. Các cơ quan sau đây có trách nhiệm cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế:

Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác có trách nhiệm cung cấp nội dung giao dịch qua tài khoản của người nộp thuế trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan quản lý thuế
b) Cơ quan quản lý nhà nước về nhà, đất có trách nhiệm cung cấp thông tin về hiện trạng sử dụng đất, sở hữu nhà của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân;

c) Cơ quan công an có trách nhiệm cung cấp, trao đổi thông tin liên quan đến đấu tranh phòng, chống tội phạm về thuế; cung cấp thông tin về cá nhân xuất cảnh, nhập cảnh và thông tin về đăng ký, quản lý phương tiện giao thông;

d) Cơ quan chi trả thu nhập có trách nhiệm cung cấp thông tin về chi trả thu nhập và số tiền thuế khấu trừ của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế;

đ) Cơ quan quản lý thương mại có trách nhiệm cung cấp thông tin về chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh của Việt Nam và nước ngoài; thông tin về quản lý thị trường
 
V

vannhat

~*Vô Đối*~
CHỉ trong trường hợp doanh nghiệp có hành vi gian lận về thuế thì bên thuế họ mới yêu cầu ngân hàng cung cấp thông tin. Ngay cả đến những ngân hàng ở thuỵ sỹ nổi tiếng là bảo mật giờ cũng phải cung cấp thông tin nữa là.
 
T

thd6758

Cao cấp
4/5/07
2,280
119
63
Hà Nội
Cho hỏi khi quyết toán thuế TNDN (hoặc một vấn đề nào đó liên quan đến thuế) thì cơ quan thuế có quyền yêu cầu ngân hàng cung cấp số liệu liên quan đến doanh nghiệp hay không?
Trong luật thuế TNDN 09/2003/QH11 (điều 15 chương III) thì có ghi có quyền yêu cầu ngân hàng, cơ quan tín dụng cung cấp tài liệu nhưng luật thuế này đã hết hiệu lực, trong luật thuế TNDN mới thì không đề cập đến.
Không biết có văn bản pháp luật nào còn hiệu lực quy định về vấn đề này không nhỉ?

Bạn đọc kỹ Luật quản lý thuế có quy định rõ cả đấy
 
thanhvunt

thanhvunt

http://thanhvunt.com
22/1/06
2,076
10
0
Nha Trang
thanhvunt.com
Bạn đọc kỹ Luật quản lý thuế có quy định rõ cả đấy
Năm 2007-2008 "ồn ào" vụ nhà máy đóng tàu XYZ đổ chất xỉ đồng làm ô nhiễm môi trường. Báo chí vào cuộc điều tra và đi tìm thông tin so sánh giữa "đóng góp ngân sách" và "hủy hoại môi trường" của nhà máy này. Tuy nhiên khi cơ quan báo chí đến cơ quan thuế để lấy thông tin về thuế của nhà máy này thì bị từ chối.

Trong việc này, cơ quan báo chí dựa vào luật báo chí để đòi hỏi "quyền đước tiếp cận thông tin" nhưng cơ quan thuế thì dựa vào luật quản lý thuế để thực hiện "bảo vệ thông tin của doanh nghiệp".

-----------------------------
Cái mình muốn nói ở đây là mặc dù trong luật quản lý thuế có nói đến trách nhiệm phải cung cấp thông tin của khách hàng nhưng các ngân hàng thương mại nếu từ chối cung cấp thì sao? Biện pháp chế tài nào được thực thi?

Do đó trong luật quản lý thuế có nhiều điều khi đọc thì thấy quy định rõ nhưng khi thực hiện mới thấy rất mơ hồ.
 
Sửa lần cuối:
thanhvunt

thanhvunt

http://thanhvunt.com
22/1/06
2,076
10
0
Nha Trang
thanhvunt.com
Nói đến cái mơ hồ trong luật quản lý thuế thì còn nhiều thứ, ví dụ:

- Luật quản lý thuế quy định rõ các mức phạt đối với những hành vi kê khai thuế trễ, chậm nộp hồ sơ đăng ký thuế, cách tính số tiền phạt chậm nộp, các mức phạt và cách tính số tiền phạt hành chính... nói chung là khá đầy đủ.

- Luật quản lý thuế cũng quy định đối với trường hợp doanh nghiệp khi bị cơ quan thuế phạt hoặc ấn định thuế nếu doanh nghiệp không đồng ý với ý kiến của cơ quan thuế thì có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện cơ quan thuế nhưng trong lúc chưa có quyết định cuối cùng của cơ quan có thẩm quyền xử lý vụ việc thì doanh nghiệp phải thực hiện theo quyết định của cơ quan thuế. Khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền, nếu cơ quan thuế sai thì phải có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền thuế tính sai cho doanh nghiệp và bồi thường.

---> Cái mơ hồ ở đây là khi doanh nghiệp chậm nộp hoặc trốn thuế thì mức phạt hành chính và phạt chậm nộp được quy định rất rõ nhưng đối với quy định về việc cơ quan thuế phải bồi thường thì không thấy đề cập phương pháp tính bồi thường.

Ví dụ cơ quan thuế ấn định sai làm doanh nghiệp phải nộp thuế 1 tỷ đồng. Dn khiếu nại hoặc khởi kiện và 1 năm sau thì Dn thắng kiện. Cơ quan thuế trả lại 1 tỷ đồng và bồi thường bao nhiêu?
 
thanhvunt

thanhvunt

http://thanhvunt.com
22/1/06
2,076
10
0
Nha Trang
thanhvunt.com
Bác ơi lại hơi lạc đề rồi, bác tạo topic mới thảo luận cho đã hihi..
hì hì, hơi lạc một tí nhưng chỉ là dẫn chứng cho bài trả lời #3 mà thôi.

Tóm lại, nếu cơ quan thuế yêu cầu ngân hàng thương mai "phải" cung cấp thông tin của doanh nghiệp và nếu ngân hàng thương mại bất hợp tác thì cơ quan thuế bó tay. Trừ khi có sự chỉ đạo từ cấp quản lý cao hơn hoặc cấp có thẩm quyền hơn.
 
tamnt07

tamnt07

Sống đơn giản, lấy nụ cười làm căn bản!
21/3/07
5,693
643
113
The Capital
CHỉ trong trường hợp doanh nghiệp có hành vi gian lận về thuế thì bên thuế họ mới yêu cầu ngân hàng cung cấp thông tin. Ngay cả đến những ngân hàng ở thuỵ sỹ nổi tiếng là bảo mật giờ cũng phải cung cấp thông tin nữa là.

Nhưng nếu không cung cấp thông tin thì làm sao chứng minh là có hành vi gian lận thuế đây (nếu có)???
 

Xem nhiều