86.Xuất hóa đơn đặc thù
Nội dung câu hỏi:
Quá trình kinh doanh có trường hợp khác hàng trong cùng một lần mua nhiều chủng loại hàng hoá khác nhau dẫn đến việc không thể in hết tên hàng hoá, dịch vụ trên 1 tờ hoá đơn đặc thù của công ty mà chúng tôi phải xuất hoá đơn dài quá một trang thì hướng giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ quy định hiện hành về in, phát hành, quản lý và sử dụng hoá đơn để các đơn vị thực hiện hiện việc in, phát hành, quản lý và sử dụng hoá đơn. Thực tế trong quá trình kinh doanh có phát sinh một số khách hàng mua nhiều loại hàng hoá dẫn đến việc không thể in hết tên hàng hoá, dịch vụ trong 1 tờ hoá đơn, trường hợp khách hàng của Công ty mua nhiều chủng loại hàng hoá khác nhau và phải xuất nhiều số hoá đơn GTGT trong cùng một lần mua hàng cho các loại hàng hoá nêu trên thì số thuế GTGT đầu vào tương ứng được kê khai, khấu trừ theo quy định nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện như sau:
- Tất cả các số hoá đơn GTGT xuất cho cùng một lần mua hàng phải có số hoá đơn liên tục, tính từ số hoá đơn đầu tiên cho đến số hoá đơn cuối cùng;
- Số hoá đơn GTGT cuối cùng phải ghi đầy đủ tất cả các chỉ tiêu và phải có chữ ký người bán hàng, người mua hàng. Căn cứ trên số hoá đơn cuối cùng này để xác định tổng số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ (chỉ tiêu "tổng cộng thuế GTGT").
Hàng tháng, Công ty có trách nhiệm báo cáo cơ quan thuế tổng số hoá đơn phát hành trong tháng, trong đó báo cáo số hoá đơn của từng trường hợp mà khách hàng mua hàng trong một lần mua hàng có xuất hoá đơn GTGT từ hai số hoá đơn trở lên.
87.Chứng từ khi góp vốn
Nội dung câu hỏi:
Xin quý báo cho biết, khi doanh nghiệp góp vốn bằng tài sản và các khoản chi phí đã trả thì cần những chứng từ gì để được chấp nhận?
Trả lời:
Tại khoản b.1, điểm 5.18, mục IV, phần B Thông tư số 32/2007/TT-BTC ngày 9/4/2007 của Bộ Tài chính có quy định: "Tài sản góp vốn vào doanh nghiệp phải có: biên bản góp vốn sản xuất kinh doanh, hợp đồng liên doanh, liên kết; biên bản định giá tài sản của hội đồng giao nhận vốn góp của các bên góp vốn (hoặc văn bản định giá của tổ chức có chức năng định giá theo quy định của pháp luật), kèm theo bộ hồ sơ về nguồn gốc tài sản”. Như vậy, khi doanh nghiệp góp vốn bằng tài sản và các chi phí đã chi trả trước đó thì phải thực hiện các quy định về hóa đơn, chứng từ như trên.
88.Nộp thuế môn bài đối với kho, xưởng?
Nội dung câu hỏi:
Một số kho hàng, xưởng sản xuất trực thuộc công ty chúng tôi mới thành lập (không đăng ký mã số thuế riêng mà chỉ thành lập theo quyết định của công ty) thì có phải nộp thuế môn bài hay không?
Trả lời:
Tại Điểm 1 Thông tư số 42/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung, sửa đổi Thông tư số 96/2002/TT-BTC (24/10/2002) của Bộ Tài chính quy định các tổ chức kinh doanh nộp thuế môn bài: “Các tổ chức kinh tế bao gồm:
- Các Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức và cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, các tổ chức, đơn vị sự nghiệp khác và tổ chức kinh doanh hạch toán kinh tế độc lập khác;
- Các Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã và các Quỹ tín dụng nhân dân (gọi chung là các Hợp tác xã);
- Các cơ sở kinh doanh là chi nhánh, cửa hàng, cửa hiệu (thuộc công ty hoặc thuộc chi nhánh)... hạch toán phụ thuộc hoặc báo sổ được cấp giấy chứng nhận (đăng ký kinh doanh), có đăng ký nộp thuế, và được cấp mã số thuế (loại 13 số );...”
Theo đó, trường hợp các kho hàng, xưởng sản xuất trực thuộc công ty (không có giấy phép thành lập, không đăng ký mã số thuế riêng mà được thành lập theo quyết định của công ty) không phát sinh hoạt động mua bán thì các kho hàng, xưởng sản xuất này không phải nộp thuế môn bài.
89.Cho mượn nguyên liệu sản xuất
Nội dung câu hỏi:
Trường hợp 2 công ty A và B trong cùng 1 tổng công ty có giao dịch cho mượn nguyên liệu để phục vụ sản xuất, thì khi xuất nguyên liệu cho mượn, bên cho mượn nguyên liệu có phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng và kê khai nộp thuế không?
Trả lời:
Điều 5.18.b2 Mục IV Phần B Thông tư số 32/2007/TT-BTC (9/4/2008) của Bộ Tài chính hướng dẫn hóa đơn, chứng từ đối với tài sản điều chuyển như sau: “Trường hợp tài sản điều chuyển giữa các đơn vị hạch toán độc lập hoặc giữa các đơn vị thành viên có tư cách pháp nhân đầy đủ trong cùng một cơ sở kinh doanh thì cơ sở kinh doanh có tài sản điều chuyển phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng và kê khai nộp thuế giá trị gia tăng theo qui định”.
Căn cứ hướng dẫn nêu trên, trường hợp công ty A và công ty B có giao dịch cho mượn nguyên liệu để phục vụ sản xuất, khi xuất nguyên liệu cho mượn, bên cho mượn phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng và kê khai nộp thuế theo qui định.
90.Thời điểm bắt đầu ưu đãi thuế
Nội dung câu hỏi:
Công ty chúng tôi thành lập và thuộc diện được hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo Điều 38 Nghị định số 164/2003/NĐ- CP. Đề nghị quý báo hướng dẫn về thời điểm bắt đầu tính thời gian được hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế cho trường hợp của công ty chúng tôi.
Trả lời:
Tại Điều 47 Nghị định số 164/2003/NĐ-CP (22/12/2003) của chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định về thời điểm bắt đầu hưởng ưu đãi miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp: “Điều 47. Thuế suất ưu đãi, miễn thuế, giảm thuế và chuyển lỗ theo quy định tại Điều 35, Điều 36, Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 40, Điều 41, Điều 43, Điều 44, Điều 45 và Điều 46 của Nghị định này chỉ áp dụng đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đúng chế độ kế toán hóa đơn, chứng từ và đã đăng ký thuế nộp thuế theo kê khai. Cơ sở kinh doanh tự xác định các điều kiện được hưởng ưu đãi thuế, mức miễn thuế, giảm thuế, số lỗ được trừ vào thu nhập chịu thuế và có văn bản thông báo cho cơ quan thuế biết cùng với thời gian nộp tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp hàng năm.
Thời điểm bắt đầu tính thời gian miễn thuế, giảm thuế theo quy định tại Nghị định này là năm tài chính đầu tiên cơ sở kinh doanh có thu nhập chịu thuế chưa trừ số lỗ được chuyển theo quy định tại Điều 46 của Nghị định này.
Trường hợp năm tài chính đầu tiên được miễn thuế, giảm thuế có thời gian hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ dưới sáu tháng, cơ sở kinh doanh có quyền được hưởng miễn thuế, giảm thuế ngay năm đó hoặc đăng ký với cơ quan thuế thời gian bắt đầu được miễn thuế, giảm thuế từ năm tài chính tiếp theo.
Thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính liên tục kể từ năm tài chính đầu tiên cơ sở kinh doanh có thu nhập chịu thuế chưa trừ số lỗ được chuyển.
Trong cùng một thời gian, nếu có một khoản thu nhập được miễn thuế, giảm thuế theo nhiều trường hợp khác nhau thì cơ sở kinh doanh tự lựa chọn một trong những trường hợp miễn thuế, giảm thuế có lợi nhất và thông báo cho cơ quan thuế biết”.
Căn cứ quy định trên, trường hợp công ty được hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo Điều 38 Nghị định số 164/2003/NĐ- CP thì thời điểm bắt đầu tính thời gian miễn thuế, giảm thuế theo quy định là năm tài chính đầu tiên cơ sở kinh doanh có thu nhâp chịu thuế.