Bất cập về "trợ cấp thất nghiệp" và "Trợ cấp thôi việc"

  • Thread starter lengocloi
  • Ngày gửi
L

lengocloi

Guest
7/10/04
5
0
1
HOCHIMINH
Những bất cập liên quan đến vấn đề trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc của người lao động hiện nay

Trước đây, khi người lao động thôi việc thì được hưởng trợ cấp thôi việc do doanh nghiệp chi trả và mức chi trả được tính “một năm thâm niên được hưởng ½ tháng lương đóng BHXH”. Tại Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/05/2009 thì từ 01/01/2009, việc tính trợ cấp thôi việc không áp dụng nữa vì doanh nghiệp đã đóng BHTN cho NLĐ. Điều này làm nẩy sinh một số vấn đề bất cập trong chính sách dành cho người lao động.

Trong vấn đề này, chúng ta không bàn đến “trợ cấp mất việc”. Trợ cấp mất việc được hướng dẫn tại Điều 17, Bộ luật Lao động. Theo đó, khi thay đổi cơ cấu mà cho người lao động thôi việc (tức là làm cho người lao động mất việc) thì Doanh nghiệp phải thanh toán cho người lao động (có thời gian làm việc trên 1 năm) một khoản “trợ cấp mất việc” là mỗi năm thâm niên được hưởng 1 tháng lương, và tối thiểu là 2 tháng lương. Cụ thể tại Nghị định 39/2003/NĐ-CP ngày 18/04/2003, hướng dẫn tại các Điều 11, 12, 13. Trong đó, tại điều 13, Nghị định 39 cũng hướng dẫn hàng tháng trích từ 1% đến 3% Quỹ lương đóng BHXH để trích lập “quỹ dự phòng trợ cấp mất việc”.

Ở đây, điều cần bàn là “trợ cấp thôi việc”. Nghị định 44/2003/NĐ-CP hướng dẫn tại Điều 14 v/v Doanh nghiệp có nghĩa vụ trả trợ cấp thôi việc cho người lao động trong trường hợp chấm dứt Hợp đồng lao động (đối với người lao động đã làm việc từ đủ 12 tháng trở lên quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Lao động trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại Điều 36 của Bộ luật Lao động; Điều 37, các điểm a, c, d và điểm đ khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 41, điểm c khoản 1 Điều 85 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung.) Nguồn kinh phí trả cho “Trợ cấp thôi việc” tính vào Chi phí (TK 642). Thời gian làm việc là từ 12 tháng trở lên sau đó, nếu từ 1 tháng đến 6 tháng thì làm tròn thành 6 tháng, trên 6 tháng thì làm tròn thành 1 năm. Mức trợ cấp là mỗi năm làm việc thì được hưởng ½ tháng lương và phụ cấp (nếu có).
Đến đây chắc cũng không có gì “phàn nàn” nếu không có Luật BHXH ban hành năm 2006 với các điều khoản liên quan đến “Trợ cấp thất nghiệp”. Theo Luật BHXH ban hành năm 2006, điều khoản bảo hiểm thất nghiệp được áp dụng từ 01/01/2009, và chỉ áp dụng trợ cấp thất nghiệp đối với NLĐ đã đóng đủ BHTN từ 12 tháng trở lên (Điều 81). Theo Điều 3 Luật này, “Người thất nghiệp là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.” Và được hưởng tối thiểu từ 3 tháng trợ cấp thất nghiệp trở lên (60% mức lương trước thất nghiệp). Nhưng không được hưởng quá 1 năm. (Điều 82).
Sau đó, tại Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH thì hướng dẫn (do thời gian từ 01/01/2009 đã đóng BHTN rồi, nên) việc tính trợ cấp thôi việc theo thâm niên chỉ dừng đến 31/12/2008 thôi.
Vấn đề nằm ngay ở điểm là, chúng ta không có “định nghĩa về trợ cấp thất nghiệp”. Trợ cấp thất nghiệp là khoản tiền nuôi sống cho NLĐ trong thời gian NLĐ bị thất nghiệp, tức là hoàn toàn không liên quan đến vấn đề công tác trước đó. Ở đây có 2 điều cần quan tâm. Thứ nhất, giả sử người lao động thôi việc vào tháng 06/2009, thì trợ cấp thôi việc của NLĐ chỉ được tính đến 31/12/2008, trong khi NLĐ không hưởng được trợ cấp thất nghiệp vì thời gian đóng BHTN mới được 6 tháng! Đây là một thiệt thòi. Thứ hai, giả sử NLĐ đóng đủ trên 12 tháng BHTN nhưng khi nghỉ việc cơ quan cũ sang làm cơ quan mới, thì “vì không thất nghiệp nên không hưởng BHTN” và cũng không được Cơ quan cũ “trợ cấp thôi việc”. Đây chính là điểm thứ hai làm người lao động bị thiệt thòi.
Thử phân tích khái niệm “trợ cấp thôi việc”. Nếu khoản trợ cấp thôi việc là “để hỗ trợ người lao động không còn việc làm trong thời gian đi xin việc mới” thì có thể đánh đồng và thay thế bởi BHTN. Nhưng thật ra, từ lâu nay, người lao động nghỉ việc Cơ quan cũ sang làm Cơ quan khác vẫn hưởng “Trợ cấp thôi việc”. Trong các văn bản trước đây nói về “nghĩa vụ doanh nghiệp phải chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động” không có văn bản nào giải thích mục đích, ý nghĩa của “trợ cấp thôi việc”. Điều này làm cho hầu hết NLĐ cho rằng trợ cấp thôi việc là một khoản nghĩa vụ mà doanh nghiệp trả cho thời gian cống hiến lâu dài tại doanh nghiệp và khi ra đi họ được hưởng. Nếu đó là một khoản trợ cấp cho thời gian cống hiến tại doanh nghiệp thì lại càng không thể thay thế “trợ cấp thôi việc” bằng “bảo hiểm thất nghiệp”.
Nếu phân tích đúng hơn, thì “Trợ cấp thất nghiệp” phải được thay thế cho “Trợ cấp mất việc” mới đúng. Nhưng đằng này, chúng ta lại đi thay “Trợ cấp thôi việc” bằng “Trợ cấp thất nghiệp”.
Và điều làm cho Kế toán “hoang mang”
Hầu hết các Kế toán đang “hoang mang” vì TK 351 hiện nay xử lý thế nào. Tuy nhiên, trong bài viết này, căn cứ các quy định hiện hành, xin đưa ra ý kiến như sau : Vào ngày 31/12 hàng năm, kế toán vẫn căn cứ tổng quỹ lương BHXH trích từ 1% đến 3% (quỹ lương năm theo khả năng của doanh nghiệp) để đưa vào Quỹ dự phòng “trợ cấp mất việc” (Nợ TK 642, Có TK 351). Đối với các Doanh nghiệp niêm yết, thì việc trích lập quỹ này được thực hiện tại thời điểm lập BCTC giữa niên độ (căn cứ quỹ lương quý). Khi chi trả trợ cấp mất việc (chứ không phải là trợ cấp thôi việc) thì ghi Có TK 111, Nợ TK 351.
Kiến nghị
Kiến nghị Bộ LĐTBXH điều chỉnh quy định liên quan đến “trợ cấp mất việc”, “trợ cấp thôi việc”, “trợ cấp thất nghiệp” đồng thời công bố định nghĩa rõ ràng về các khoản này để NLĐ hiểu rõ hơn. Thiết nghĩ, việc duy trì “trợ cấp thôi việc” là cần thiết vì “trợ cấp thôi việc” là khoản trợ cấp mà doanh nghiệp dành cho NLĐ khi họ rời khỏi cơ quan sau một thời gian gắn bó. Vì cũng theo Điều 41 Bộ Luật Lao động thì nếu người lao động vi phạm kỷ luật buộc thôi việc hay đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì không được hưởng “trợ cấp thôi việc”. Nếu có thể, nên thay thế “trợ cấp mất việc” bằng “trợ cấp thất nghiệp”.
Bên cạnh đó, kiến nghị điều chỉnh Khoản 6, Điều 139 Luật BHXH đã ban hành như sau :”Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Luật này không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức.” Vì điều khoản này đã “hủy bỏ” cả “trợ cấp mất việc và trợ cấp thôi việc”, đơn phương hủy bỏ Điều 17 và Điều 42 Bộ luật Lao động. Trong khi chưa có văn bản nào hướng dẫn việc hủy bỏ trợ cấp mất việc từ Bộ Tài chính và cách thức xử lý TK 351.

Lê Ngọc Lợi
 
Khóa học Quản trị dòng tiền
tranvanhung

tranvanhung

Gãi ngứa
20/2/04
2,975
12
38
22
Biên Hoà - Đồng Nai
Cảm ơn bài viết rất hữu ích của bạn. Các lập luận bạn đưa ra cũng rất xác đáng đặc biệt là sự phân biệt rạch ròi giữa 3 lọai trợ cấp đó là: trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc và trợ cấp thất nghiệp. Thực tế ra thì ngay quy định tại điều số 17 và điều số 42 của Bộ luật lao động ban hành năm 1994 (các luật sửa đổi sau này chỉ bổ sung thêm bớt 1 vài điều và không điều chỉnh lại quy định tại 2 điều trên) cũng đã phân biệt rất rạch ròi về nghĩa vụ phải trả trợ cấp mất việc và trợ cấp thôi việc của doanh nghiệp khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động đúng luật và 2 lọai trợ cấp này là hòan tòan khác nhau về mặt ý nghĩa cũng như tỷ lệ tính, cách tính chi trả.

So sánh các quy định tại điều số 17 về trợ cấp mất việc thì chúng ta có thể thấy nó có nhiều điểm tương đồng với điều số 83 và 84 của Bộ luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 có nghĩa là các quy định hiện tại về Bảo hiểm thất nghiệp chỉ có thể thay thế cho điều số 17 của Bộ luật lao động trong đó cũng có quy định về hỗ trợ mất việc, hỗ trợ học nghề, chuyển đổi nghề nghiệp….cho người lao động khi họ bị mất việc mà không thể thay thế cho điều số 42 của Bộ luật lao động năm 1994 về trợ cấp thôi việc. Đúng như bạn nói, khỏan trợ cấp thôi việc này chính là khỏan mà đương nhiên người lao động được hưởng cho quãng thời gian họ cống hiến cho công ty (từ đủ 12 tháng trở lên) cho dù sau đó họ có đi làm ở công ty khác hay là thất nghiệp đi nữa. Điều này có nghĩa là khỏan này không chịu ảnh hưởng bởi bảo hiểm thất nghiệp (hiện tại) họăc khỏan trợ cấp mất việc trước đó.

Theo quy định điều số 41 của nghị định số 127/2008/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết về một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp thì Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội không được tính để hưởng trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về cán bộ, công chức”Thời gian người sử dụng lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội được tính để miễn trách nhiệm trả trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức”.

Rõ ràng nếu chúng ta đối chiếu theo hướng dẫn của nghị định này thì Bảo hiểm thất nghiệp sẽ 1 lúc thay thế cho 2 lọai trợ cấp trước đó mà đáng lẽ ra người lao động được hưởng đó là trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc. Cũng theo như giải thích từ ngữ trong Luật bảo hiểm xã hội thì Người thất nghiệp là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm” thì rõ ràng việc nhà nước đưa ra bảo hiểm thất nghiệp là để giúp người lao động giảm bớt khó khăn trong quá trình đi tìm việc do bị mất việc làm, bị chấm dứt hợp đồng lao động. Khỏan này không thể thay thế cho khỏan trợ cấp thôi việc mà đúng ra người lao động cần phải được hưởng do quá trình công tác, cống hiến cho đơn vị của họ. Đây chính là điều thiệt thòi của chính người lao động mà đáng ra càng ngày nền kinh tế phát triển thì quyền lợi của người lao động cần phải được nâng cao hơn nữa đó là chưa kể đến những bất cập trong cách tính tóan chi trả bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động đang gây nhiều sự thắc mắc trong dư luận như càng đóng nhiều càng hưởng ít, không công bằng.....như báo chí đã nêu trong thời gian qua.

Qua các lý do trên cũng có thể thấy các quy định hiện tại là chưa hợp tình đối với người lao động vì thế nên chăng cũng cần mạnh dạn xem xét lại và đề nghị sửa đổi nếu điều này giải quyểt hài hòa lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động.

Tới đây tôi xin quay lại vấn đề hạch tóan chi phí trong kế toán đối với các khỏan trợ cấp này. Trước ngày 01/01/2009 theo quy định tại thông tư số 82/2003/TT-BTC hướng dẫn về việc trích lập quỹ dự phòng trợ cấp mất việc (bao gồm cả trợ cấp thôi việc) trong doanh nghiệp thì hàng năm doanh nghiệp sẽ tính toán tùy vào khả năng tài chính của mình để trích lập quỹ này bằng từ 1% đến 3% trên quỹ tiền lương làm cơ sở đóng Bảo hiểm xã hội. Cách thức hạch toán như sau:

a. Khi trích lập Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm, ghi:
Nợ TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp
Có TK 351 – Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm (TK thay đổi theo quyết định 15 và trước đây là TK 3353)

b. Khi chi trả trợ cấp thôi việc, mất việc làm cho người lao động, ghi:
Nợ TK 351 – Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm
Có các TK 111, 112

Trường hợp đã trích nhưng chi dư thì doanh nghiệp hạch toán thẳng vào chi phí quản lý doanh nghiệp trong kỳ. Trong trường hợp khỏan trích này không sử dụng hết sẽ vẫn có số dư bên có của TK 351. Cuối mỗi năm kế toán lại căn cứ vào số dư này và tính toán xem có cần trích thêm cho quỹ này hay không và đưa vào chi phí quản lý doanh nghiệp nếu có.

Do quy định của lọai hình bảo hiểm thất nghiệp hiện tại nên chỉ quãng thời gian làm việc trước ngày 01/01/2009 doanh nghiệp mới phải trả trợ cấp mất việc cho người lao động nên khỏan quỹ dự phòng trợ cấp này chỉ tính toán đúng cho khỏang thời gian này còn sau ngày 01/01/2009 doanh nghiệp sẽ không phải tính toán và trích lập quỹ nữa. Vì thế TK 351 này cho đến cuối năm 2009 vẫn còn số dư tính trên quãng thời gian làm việc trước 01/01/2009 mà người lao động được hưởng trợ cấp mất việc, trợ cấp thôi việc từ công ty chi trả thu nhập. Đối với các công ty không phải chi trả khỏan này do thành lập sau ngày 01/01/2009 họăc thành lập trước đó nhưng không có ai họăc không còn ai đủ điều kiện để hưởng trợ cấp mất việc, trợp cấp thôi việc thì số dư tài khỏan này sẽ bằng 0, trong trường hợp số dư TK này vẫn còn bên Có thì doanh nghiệp cần xử lý cho bằng 0 bằng cách ghi nhận giảm tương ứng chi phí quản lý trong kỳ. Các bạn cũng nên lưu ý là mặc dù thông tư 82 này có tiêu đề là hướng dẫn về việc trích lập quỹ dự phòng trợ cấp mất việc nhưng quỹ của nó lại dùng để chi trả cho cả trợ cấp mất việc và trợ cấp thôi việc như quy định tại điều 4 của thông tư.

Như vậy việc xử lý của kế toán cũng không có vấn đề gì cả mà vấn đề ở đây chính là chỗ quyền lợi của người lao động đã bị hạn chế so với trước đây.

Trên đây là 1 vài ý kiến chia sẽ cùng các bạn, không biết bạn nào còn ý kiến gì khác thì vui lòng chia sẽ để anh em học tập.
 
C

Classy

Guest
4/6/05
50
1
6
HCMC
Cảm ơn bài viết rất hữu ích của bạn.
Cảm ơn bài viết của Mr.Hung & Mr.Loi
Tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của Mr.Loi rằng "Kiến nghị Bộ LĐTBXH điều chỉnh quy định liên quan đến “trợ cấp mất việc”, “trợ cấp thôi việc”, “trợ cấp thất nghiệp” đồng thời công bố định nghĩa rõ ràng về các khoản này để NLĐ hiểu rõ hơn" và như Mr.Hung đã nói "... càng đóng nhiều càng hưởng ít...".
Sau bao năm làm kế toán tôi thấy Luật BHXH về BHTN đang đi ngược lại với quyền lợi mà NLĐ đáng được hưởng vì đâu có ai muốn thất nghiệp, mà có lở thất nghiệp để lấy được BHTN cũng trầy da tróc vảy với các yêu cầu từ BHXH (theo hướng dẫn của NĐ127/2008).
Khi NLĐ giữ được công việc của mình thì sao? Tôi giả dụ sau 20, 30năm tham gia BHTN người lao động mất bao nhiêu và nhận được gì từ việc tham gia BHTN khi hết tuổi lao động <=> so sánh với trợ cấp thôi việc trước đây
 
L

lengocloi

Guest
7/10/04
5
0
1
HOCHIMINH
Đúng là bạn vừa phát hiện ra một điều nữa. Ừ nhỉ, 30 năm sau khi đóng BHTN, chúng ta là những người lao động được gì nhỉ ?
 
xuantham

xuantham

Cao cấp
18/8/05
5,376
653
113
60
TP. Hồ Chí Minh
Cảm ơn bài viết của Mr.Hung & Mr.Loi
Tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của Mr.Loi rằng "Kiến nghị Bộ LĐTBXH điều chỉnh quy định liên quan đến “trợ cấp mất việc”, “trợ cấp thôi việc”, “trợ cấp thất nghiệp” đồng thời công bố định nghĩa rõ ràng về các khoản này để NLĐ hiểu rõ hơn" và như Mr.Hung đã nói "... càng đóng nhiều càng hưởng ít...".
Sau bao năm làm kế toán tôi thấy Luật BHXH về BHTN đang đi ngược lại với quyền lợi mà NLĐ đáng được hưởng vì đâu có ai muốn thất nghiệp, mà có lở thất nghiệp để lấy được BHTN cũng trầy da tróc vảy với các yêu cầu từ BHXH (theo hướng dẫn của NĐ127/2008).
Khi NLĐ giữ được công việc của mình thì sao? Tôi giả dụ sau 20, 30năm tham gia BHTN người lao động mất bao nhiêu và nhận được gì từ việc tham gia BHTN khi hết tuổi lao động <=> so sánh với trợ cấp thôi việc trước đây

Không thất nghiệp thì không được hưởng. Như vậy thì tuỳ lúc đó NLD tính toán "phương án" thất nghiệp thôi. Cái này cơ quan BH người ta biết rát rõ, bởi vì có thể họ, những người đóng BHTN nhưng có thể chả bao giờ họ được hưởng, ( đối tượng là công chức khả năng này gần như hoàn toàn ).

Một trong những điều kiện để hưởngBHTN là mất việc đúng luật.

Tronmg thời gian được hưởng BHTN, nếu NLD tìm được việc làm thì thông báo với cơ quan BH, lúc đó sẽ được nhận tiền BHTN 1 laafn cho các tháng còn lại được hưởng BHTN. Nhuwng, trong thời gian được hưởng BHTN, mà NLD được giới thiệu việc làm 2 lần nhưng không chịu nhận việc thì sẽ bị cắt hết các khoản BHTN của các tháng còn lại lẻ ra họ được hưởng.

Cứ căn cứ theo đó mà có" phương án" thất nghiệp sao cho có lợi
 
L

ly anh hong

Guest
16/7/09
1
0
0
95 nguyen huu huan
Nói túm lại luật mới nhằm ngăn chặn BH chi trả TCTN ( vì nếu bị mất việc làm mà chưa đủ tgian đóng BHTN thì cũng ko được nhận ,còn nếu đóng đủ tgian thì cũng phải qua ko biết bao nhiêu cửa ải biết có sống nổi để nhận được khoản trợ cấp đó ko ? ) , giúp các DN tăng thêm lợi nhuân bằng cách khỏi phải chi trả TCTV & cảnh báo người lao động nên chăm chỉ đừng để bị mất việc .Huhu !!
 

Xem nhiều