Ngân hàng dùng tỷ giá nào cho DN vay là chính sách của họ rồi (đương nhiên là trong khuôn khổ quy định của Nhà nước - muốn hiểu rõ hơn, em chịu khó google nhé), DN không can thiệp được. DN đi vay tiền USD, khi trả cũng phải trả bằng tiền USD. Tỷ giá nhận nợ / tỷ giá giải ngânlà tỷ giá phát sinh thực tế nên DN nên dùng tỷ giá đó để hạch toán khoản vay. Phần chênh lệch giữa tỷ giá khoản vay và tỷ giá khoản công nợ với nhà cung cấp sẽ thể hiện chênh lệch lãi / lỗ tỷ giá của DN cho nghiệp vụ phát sinh này.
=> Từ nghiệp vụ PS này, DN sẽ nhận biết được là vay từ NH nào sẽ có lợi cho DN hơn về tỷ giá thì nên tiến hành các khoản vay tại ngân hàng đó.
Hạn mức tín dụng chưa phải là căn cứ để theo dõi công nợ với NH. Đó chỉ là một cái mốc mà NH thoả thuận sẽ cho DN vay đến con số đó (tiêu chí là gì thì phụ thuộc vào TS thế chấp, tín chấp, KQ SXKD của DN, vào PAKD, vào thoả thuận giữa 2 bên,..). Sau khi được cấp hạn mức, DN có nhu cầu giải ngân thì mới làm thủ tục để giải ngân => Đây mới chính thức là khoản nhận nợ của DN với NH.
Chính xác sẽ phải là
1. Ghi nhận khoản vay từ NH
Nợ 112 / Có 341 - theo tỷ giá giải ngân
2. Ghi nhận khoản thanh toán cho nhà CC
Nợ 331 : tỷ giá bán NH tại thời điểm ghi nhận nợ
N635: CL lỗ
Có 112 : theo tỷ giá giải ngân
Có 515 : CL lãi
Lưu ý: Khi NH cho DN vay, mặc dù tiền chuyển thẳng cho người thụ hưởng theo lệnh chuyển tiền của DN nhưng chắc chắn sẽ phải đi qua TKNH của DN. Có NH thì họ hạch toán qua TK tiền gửi hiện hữu của DN, có NH họ sẽ tự tạo ra 01 TK tiền vay của DN => Sẽ có sổ phụ riêng cho TK tiền vay này. Vì vậy, kế toán phải lưu ý để lấy sổ phụ về, làm căn cứ ghi sổ.