Kể từ khi QĐ 15 ra đời thì chưa khi nào có cái quy định như bạn nói nhá. Tất cả sẽ tính theo tháng chứ ko tính theo năm tài chínhTrước đây thì là dài hạn vì liên quan đến 2 năm tài chính, từ cuối năm ngoái có công văn j đó chốt lại thì từ cuối 2015 trở đi là ngắn hạn
Hơi nhầm đấy đấy bạn ạ. Để ý phải thu phải trả ngắn hạn dài hạn tại sao bctc năm lại phải tái phân loại trước dài hạn mà kỳ bctc còn ít hơn 12 tháng thì phân loại thành ngắn hạn. Tại sao giờ có cv bỏ phân loại??? Vì trc giờ vn hiểu trong 1 năm tc là ngắn 2 năm tc là dài hạn. Ko phải tụ nhiên mà vấn đề này tranh cãi loạn xạKể từ khi QĐ 15 ra đời thì chưa khi nào có cái quy định như bạn nói nhá. Tất cả sẽ tính theo tháng chứ ko tính theo năm tài chính
Về phần hướng dẫn hạch toán TK 142, đúng là chế độ kế toán kèm theo QD15 ghi là thời gian trong 1 năm tài chính. Tuy nhiên, bạn có thể xem lại mẫu BCTC dạng đầy đủ B01-DN. Trên đó vẫn có chỉ tiêu "Chi phí trả trước ngắn hạn" Mã số 151. Chỉ tiêu này được lập dựa trên số dư nợ TK 142 tại thời điểm cuối năm tài chính. Như vậy, như bạn nói thì trên BCTC năm sẽ không bao giờ tồn tại chỉ tiêu này vì nếu các chi phí phân bổ trong 2 năm tài chính thì sẽ phải hạch toán sang 242 và trình bày trên chỉ tiêu chi phí trả trước dài hạn. Chỉ tiêu này chỉ có khi đơn vị lập BCTC giữa niên độ (bán niên) mà thôi.Hơi nhầm đấy đấy bạn ạ. Để ý phải thu phải trả ngắn hạn dài hạn tại sao bctc năm lại phải tái phân loại trước dài hạn mà kỳ bctc còn ít hơn 12 tháng thì phân loại thành ngắn hạn. Tại sao giờ có cv bỏ phân loại??? Vì trc giờ vn hiểu trong 1 năm tc là ngắn 2 năm tc là dài hạn. Ko phải tụ nhiên mà vấn đề này tranh cãi loạn xạ
Về phần hướng dẫn hạch toán TK 142, đúng là chế độ kế toán kèm theo QD15 ghi là thời gian trong 1 năm tài chính. Tuy nhiên, bạn có thể xem lại mẫu BCTC dạng đầy đủ B01-DN. Trên đó vẫn có chỉ tiêu "Chi phí trả trước ngắn hạn" Mã số 151. Chỉ tiêu này được lập dựa trên số dư nợ TK 142 tại thời điểm cuối năm tài chính. Như vậy, như bạn nói thì trên BCTC năm sẽ không bao giờ tồn tại chỉ tiêu này vì nếu các chi phí phân bổ trong 2 năm tài chính thì sẽ phải hạch toán sang 242 và trình bày trên chỉ tiêu chi phí trả trước dài hạn. Chỉ tiêu này chỉ có khi đơn vị lập BCTC giữa niên độ (bán niên) mà thôi.
Thứ 2, về các khoản phải thu phải trả dài hạn với ngắn hạn. việc phân loại trên BCTC căn cứ vào kỳ hạn gốc mà không căn cứ vào kỳ hạn thanh toán còn lại tính từ thời điểm lập BCTC (sau này thông tư 200 mới quy định rõ khoản này). Bạn có thể đọc phần hướng dẫn trình bày các chỉ tiêu trên BCTC, họ chỉ đề cập tới việc có thời hạn thanh toán dưới 1 năm hoặc trong 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh sẽ được phân loại là ngắn hạn chứ ko phải là thời hạn thanh toán còn lại. 2 cái này khác nhau hoàn toàn, nên ko có quy định nào là phải tái phân loại lại các khoản phải thu phải trả dài hạn thành ngắn hạn tại thời điểm lập BCTC cả. Chỉ khi thông tư 200 ra đời mới áp dụng cái đó thôi
Có hẳn chỉ tiêu trên báo cáo tài chính mà. Số dư luôn bằng 0 thì cho vào làm gìThì cứ căn cứ vào số dư nợ 142 tại thời điểm lập màsố dư nó bằng 0 thì bê số dư 0 vào thôi. Mẫu BCTC hướng dẫn link các số dư tại thời điểm đó, cứ theo hướng dẫn hạch toán chi tiết từng tài khoản rồi tại thời điểm lập bctc điền vào. Mà đã hạch toán theo đúng chi tiết 142 theo chế độ cũ thì kiểu gì cuối năm số dư cũng 0
Thì cứ căn cứ vào số dư nợ 142 tại thời điểm lập màsố dư nó bằng 0 thì bê số dư 0 vào thôi. Mẫu BCTC hướng dẫn link các số dư tại thời điểm đó, cứ theo hướng dẫn hạch toán chi tiết từng tài khoản rồi tại thời điểm lập bctc điền vào. Mà đã hạch toán theo đúng chi tiết 142 theo chế độ cũ thì kiểu gì cuối năm số dư cũng 0
tháng quý, giữa năm thì sẽ có dư, cuối năm thì hết số dư. Đấy là về chế độ, về thực tế thì theo năm tài chính hay theo 12 tháng kể từ thời điểm phát sinh đều OK
TÀI KHOẢN 142
CHI PHÍ TRẢ TRƯỚC NGẮN HẠN
Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản chi phí thực tế đã phát sinh, nhưng chưa tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh của kỳ phát sinh và việc kết chuyển các khoản chi phí này vào chi phí sản xuất, kinh doanh của các kỳ kế toán sau trong một năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh.
Chi phí trả trước ngắn hạn là những khoản chi phí thực tế đã phát sinh, nhưng có liên quan tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều kỳ hạch toán trong một năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh, nên chưa thể tính hết vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ phát sinh mà được tính vào hai hay nhiều kỳ kế toán tiếp theo.
HẠCH TOÁN TÀI KHOẢN NÀY CẦN TÔN TRỌNG
MỘT SỐ QUY ĐỊNH SAU
1. Thuộc loại chi phí trả trước, gồm:
- Chi phí trả trước về thuê cửa hàng, nhà xưởng, nhà kho, văn phòng cho một năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh.
- Chi phí trả trước về thuê dịch vụ cung cấp cho hoạt động kinh doanh của một năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh.
- Chi phí mua các loại bảo hiểm (Bảo hiểm cháy, nổ, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ phương tiện vận tải, bảo hiểm thân xe. . .) và các loại lệ phí mua và trả một lần trong năm.
- Công cụ, dụng cụ thuộc tài sản lưu động xuất dùng một lần với giá trị lớn và công cụ, dụng cụ có thời gian sử dụng dưới một năm.
- Giá trị bao bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê với kỳ hạn tối đa là một năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh.
- Chi phí mua các tài liệu kỹ thuật và các khoản chi phí trả trước ngắn hạn khác được tính phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong một năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh.
- Chi phí trong thời gian ngừng việc (Không lường trước được).
- Chi phí sửa chữa TSCĐ phát sinh một lần quá lớn cần phải phân bổ cho nhiều kỳ kế toán (tháng, quý) trong năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh.
- Chi phí trả trước ngắn hạn khác (như lãi tiền vay trả trước, lãi mua hàng trả chậm, trả góp,. . .).
2. Chỉ hạch toán vào Tài khoản 142 những khoản chi phí trả trước ngắn hạn phát sinh có giá trị lớn liên quan đến kết quả hoạt động của nhiều kỳ trong một năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh không thể tính hết cho kỳ phát sinh chi phí. Từng doanh nghiệp phải xác định và quy định chặt chẽ nội dung các khoản chi phí hạch toán vào Tài khoản 142 “Chi phí trả trước”.
3. Việc tính và phân bổ chi phí trả trước ngắn hạn vào chi phí sản xuất, kinh doanh từng kỳ hạch toán phải căn cứ vào tính chất, mức độ từng lại chi phí mà lựa chọn phương pháp và tiêu thức phù hợp, kế hoạch hoá chặt chẽ. Kế toán phải theo dõi chi tiết từng khoản chi phí trả truớc ngắn hạn đã phát sinh, đã phân bỗ vào chi phí sản xuất, kinh doanh vào các đối tượng chịu chi phí của từng kỳ hạch toán và số còn lại chưa tính vào chi phí.
4. Đối với chi phí sửa chữa TSCĐ nếu phát sinh một lần quá lớn thì được phân bổ dần vào các kỳ kế toán tiếp theo trong vòng một năm tài chính. Đối với những TSCĐ đặc thù, việc sửa chữa lớn có tính chu kỳ, doanh nghiệp có thể trích trước chi phí sửa chữa lớn vào chi phí sản xuất, kinh doanh.
Năm tài chính của bạn chinhslaf nwam hoàn thàhn BCTC, 1 chu kỳ kinh doanh là 1 chu kỳtuừ ngày đầ utiên đến ngày kết thúc của năm hoàna tành BCTC theo luật, không phải là 12 tháng từ ngày ps nghiệp vụ, mà nghiệpv ụ đó có ở trong 1 năm xác định lãiloỗ hay không, 1 năm lãi lỗ th chính là năm chốt BCTC theo luật kế toán. Còn bạnhieểu 1 năm tc là 12 tháng thì 1 năm công ty có nhiều năm tài chính và chu kỳ kinh doanh lắm. tha hồ tính lãi lỗ. suy ra là mỗi ngày sẽ có 1 năm tài chín moới, 1 chu kỳki nh doanh mớiVậy bạn xem lại năm TC được tính thế nào, chu kỳ KD bắt đầu từ đâu ( ở luật )