Paper 3.7 - Strategic Financial Management

Thảo luận trong 'Chứng chỉ nghề chuyên nghiệp' bắt đầu bởi quickquickslow, 14 Tháng chín 2004.

16,557 lượt xem

  1. quickquickslow

    quickquickslow Thành viên thân thiết

    Bài viết:
    175
    Đã được thích:
    3
    Nơi ở:
    Farfaraway
    Có lẽ ta nên bắt đầu với collar, cap và floor một chút để gọi là "khởi động" nhỉ?

    Sau đấy là call, put, với lại Black-Scholes (không nhớ là trong syllabus có Binomial option pricing không nhỉ?)

    Sau đấy nữa thì là gì? Tuỳ các bạn.
     
    #1
  2. ketoan@

    ketoan@ Thành viên hoạt động

    Bài viết:
    315
    Đã được thích:
    3
    Nơi ở:
    Bụi mận gai...
    Dạ thưa "giáo sư" quickquickslow, cái món 3.7 này thì ketoan@ khởi động mãi rồi mà 2 chân cứ như bị buộc lại, mãi chưa chạy tiếp được. :wall:

    Từ coprate governance, Strategy formulation, Financial planning and forecasting, Investment decisions, Valuation of companies, Valuation of debt and market efficiency đến tận Cost of capital thì tạm tạm. Còn sau đó thì...... brainstorm với Portfolio theory, với Capital assets pricing model -CAPM, M&M valuation technique,

    Các phần về risk như current option với call, put, rồi Collars, Greeks rồi Valuation of options với put-call parity, Black-Scholes sẽ xin chỉ giáo dần dần ạ.........

    Xin mời "thầy" 1 cốc coffee chút cho đỡ dizzi ạ.
    :coffee::coffee:
     
    #2
  3. quickquickslow

    quickquickslow Thành viên thân thiết

    Bài viết:
    175
    Đã được thích:
    3
    Nơi ở:
    Farfaraway
    Hãy bắt đầu bằng những câu chuyện kể liên quan đến tài chính để cho ketoan@ có chút cảm hứng nhỉ. Có lẽ, điểm thích hợp là Modigliani & Miller and their capital structure theories.

    Câu chuyện 1: - M&M và các lý thuyết về cấu trúc vốn

    Merton Miller, một trong nhà kinh tế học được giải thưởng Nobel, trong một lần trả lời phỏng vấn đài truyền hình Chicago đã được yêu cầu giải thích ngắn gọn nội dung chính của các lý thuyết của M&M về cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Yêu cầu được đưa ra là phải giải thích một cách rất dễ hiểu cho các độc giả không chuyên nghiệp và trong thời hạn có 10 giây. Miller đã cố gắng đưa ra một hình ảnh thú vị "...Nếu bạn coi doanh nghiệp là một chiếc bánh pizza, bạn cắt làm bốn, sau đó chia tiếp thành tám phần, M&M nói rằng bạn có rất nhiều miếng nhỏ Pizza, chứ không phải là cả chiếc bánh".

    Các hãng thông tấn đã thất vọng với lời giải thích của Miller. Tuy nhiên nếu nhìn một cách thẳng thắn, Miller đã rất xuất sắc trong câu trả lời của mình. Bởi với 10 giây ngắn ngủi, liệu bạn có thể tóm tắt một công trình của cả đời người hay không? Hơn nữa, công trình đó được trình bày trong hai bài báo đăng trên các tạp chí nổi tiếng, mỗi bài báo dài 30 trang và thêm 60 trang chú thích và các vấn đề có liên quan?

    Vậy M&M là gì? Tại sao nó lại quan trọng như vậy?

    Năm 1958, bằng việc đưa ra một mô hình doanh nghiệp trong điều kiên phi thực tế, Modigliali and Miller, hai nhà học giả được giải Nobel, đã đưa ra những kết luận rất quan trọng ảnh hưởng đến các quyết định về tài chính và cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Kết luận thứ nhất, giá trị của doanh nghiệp không phụ thuộc vào cấu trúc vốn của nó. Kết luận thứ hai, chi phí vốn phụ thuộc vào ba yếu tố: mức lợi tức yêu cầu của doanh nghiệp, chi phí vốn vay, và tỷ lệ nợ/vốn của doanh nghiệp.

    Các kết luận trên được đưa ra trên cơ sở xây dựng một mô hình doanh nghiệp thoả mãn các giả định sau:
    1- Thị trường vốn hoàn hảo, tất cả các nhà đầu tư có thông tin như nhau và có đồng phản ứng
    2-Không có thuế và chi phí giao dịch
    3-Rủi ro đối với vay nợ không có.

    Trên thực tế, lý thuyết của M&M có vẻ rất đơn giản nhưng nó lại cho cho thấy một quyết định cấu trúc vốn phải để ý đến các yếu tố gì. Và lý thuyết này ảnh hưởng đến tất cả các doanh nghiệp trong quá trình ra quyết định đồng thời cũng đưa ra bước phát triển mới trong lý thuyết tài chính.
     
    Last edited: 15 Tháng chín 2004
    #3
  4. quickquickslow

    quickquickslow Thành viên thân thiết

    Bài viết:
    175
    Đã được thích:
    3
    Nơi ở:
    Farfaraway
    Câu chuyện thứ hai - Black-Scholes và vẻ đẹp của công thức đoạt giải Nobel

    Nếu như bạn học về tài chính, thì người ta thường cho bạn định nghĩa về options (quyền chọn) là quyền được mua/bán một tài sản tại một thời điểm nào đó trong tương lai với một mức giá xác định. Đến ngày thực hiện hợp đồng, bạn có thể không mua/bán tài sản đó, và người ký hợp đồng bán/mua tài sản đó cũng không kiện bạn.

    Vậy nếu bạn không học tài chính? Option là một trong những việc bạn thường làm. Khi mua một căn nhà hay một chiếc xe máy, bạn thường đặt cọc. Tuy nhiên, nếu bạn quyết định không mua nữa thì bạn sẽ mất số tiền đặt cọc đó. Nhưng đó là quyết định của bạn.

    Việc mua bảo hiểm cũng giống như bạn ký một hợp đồng option. Trong đó, bạn trả phí cho công ty bảo hiểm để được quyền bồi thường nếu rủi ro xảy ra với bạn.

    Như vậy khái niệm option không còn là mới và nó cũng đã được thực hiện rất lâu trên thị trường chứng khoán bởi các chuyên gia môi giới.

    Năm 1973 là một năm hết sức quan trọng trong lịch sử của option. Thị trường quền chọn Chicago (Mỹ) [Lại Chicago, mảnh đất của mafia và giới tài chính học - Quick] được thành lập và trở thành thị trường quyền chọn chính thức đầu tiên trên thế giới. Đồng thời trong năm đó, hai giáo sư của trường Đại học Massachusetts Institute of Technology, Fisher Black và Myron Scholes, công bố công trình nghiên cứu của mình trên tạp chí Kinh tế chính trị (Journal of Political Economy) về công thức tính giá option. Công thức này nhanh chóng trở nên nổi tiếng với cái tên Mô hình tính giá quyền chọn Black-Scholes, một trong những nghiên cứu có giá trị nhất trong việc tính giá các công cụ tài chính. Đồng thời nó cũng phát triển ra một ngành mới về tính giá các công cụ tài chính.
     
    #4
  5. quickquickslow

    quickquickslow Thành viên thân thiết

    Bài viết:
    175
    Đã được thích:
    3
    Nơi ở:
    Farfaraway
    Trước hết Black-Scholes nói gì? Bạn hãy hình dung nếu bạn phải nói rằng để xác định bạn phải bỏ ra bao nhiêu tiền cho quyền được mua vàng vào đợt tết dương lịch vào ngày hôm nay, trong trường hợp giá vàng không đúng như bạn mong muốn bạn có thể không mua nữa thật là khó. Bằng việc phát triển công thức dựa trên cơ sở thoả mãn một số điều kiện xác định, công thức của B_S cho phép bạn xác định được số tiền bạn phải trả là bao nhiêu. Việc phát triển công thức trên của B_S khá phức tạp và dựa vào kết quả của một phân ngành toán học mới.

    Tại sao nó lại quan trọng đến vậy? Như đã nói ở trên, B_S model đã thay đổi hoàn toàn việc định giá option và làm cho việc giao dịch tăng lên một cách thuận lợi. Với một chiếc máy tính tay, bạn có thể dễ dàng tính giá của option và đồng thời đưa ra các quyết định tài chính nhanh chóng. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán phái sinh, các công ty và các nhà đầu tư ngày càng có nhiều chiến lược đầu tư phức tạp, trong đó, nếu như không có option và phương pháp tính giá của B_S, có lẽ các giao dịch đã không phát triển đến con số hàng ngàn tỷ trao đổi trên thị trường một năm như hiện nay. B_S đã đặt dấu ấn cho thị trường tài chính hiện đại.

    Quickquickslow
     
    #5
  6. Vualua

    Vualua Geosynthetics

    Bài viết:
    307
    Đã được thích:
    3
    Nơi ở:
    Hà Nội
    Cái bài này chắc viết bởi một người cũ trước đây mà lâu nay không thấy tăm hơi hắn đâu. Có điều mình nghĩ nếu nói những vấn đề không đầu không đuôi như thế này thì mọi người khó nhận biết được kiến thức lắm. Hầu hết học viên ở đây chưa có học về Corporate Finance, về option, Future hay SWAP mọi người chưa hề biết đến cơ bản . Theo mình nghĩ nên đi thấp hơn 1 level trong những câu chuyện này thì sẽ hấp dẫn thêm rất nhiều.Với lại ví dụ trên chưa đủ để mô tả về bản chất của 1 quyền chọn.

    Để thêm gia vị cho cái mục này VL có góp một chút làm vui :

    Vậy thế nào là option?hay quyền chọn

    Giả sử bạn gặp một tên Amatơ nào đó như anh công tử Bạc liêu. Hắn muốn chơi với bạn 1 game về kinh doanh là việc hắn sẽ bán trên giấy cho bạn một cánh đồng lúa non. Dĩ nhiên sản lượng phải tính bằng Kg nhưng lúc đó lúa của hắn đang lên đòng. Bạn và hắn xác định sẽ thoả thuận trên giấy là mua 1 triệu tấn lúa ngay sau khi hắn thu hoạch vụ tới (Khoảng 2 tháng sau). Dĩ nhiên giá xác định là tại thời điểm bạn gặp hắn tại hiện tại với mức giá 1 triệu/Tấn. Bạn thì đoán năm nay lúa có khả năng lên giá vì dạo này Somali đang chết đói và nghe phong phanh đâu họ đặt mua gạo của ta để giả quyết vấn đề lương thực. Dĩ nhiên là bằng cánh nào thì anh công tử bạc liêu kia cũng bán. Thứ nhất là 1 triệu tấn lúa đó có đáng là bao đối với hắn vì hắn còn trồng cả sắn khoai, có 100 triệu tấn thì hắn cũng ok và bản chất hắn là công tử Bạc liêu.Cũng có thể trong cái bụng hắn sẽ nghĩ giá xuống và thế là bạn và hắn ký với nhau một thoả thuận option. Trong trường hợp này, bạn chọn quyền mua.Dĩ nhiên cái nhà anh hai lúa đó sẽ bắt bạn đóng khoản phí là 1% trị giá 1 triệu tấn và thế là bạn móc ví.

    Trong cái thoả thuận này, dĩ nhiên sau hai tháng đến vụ thu hoạch, bạn chỉ cần bỏ 1 triệu ra la bạn sẽ co 1 tấn lúa phơi đủ nắng với mức giá là 2 triệu/tấn tại thời điểm đó. Nếu giá chỉ còn 900 ngàn bạn có thể không thực hiện cái quyền mua đó và bạn mất khoản phí thực hiện quyền chọn.Tuy nhiên bạn cũng chẳng cần phải nhận đủ 1 triệu tấn xong đem bán sang Somali, bạn chỉ cần gọi cái tên xuất khẩu đến và ấn vào tay hắn cái giấy cam kết của anh công tử Bạc Liêu và trích lại chút phí trà thuốc và khoản chênh lệch đó nằm nguyên trong túi bạn. Cũng có khi anh công tử bạc liêu đó không giao hàng cho bạn và hắn chấp nhận chi trả cái phần chênh lệch đó thẳng cho bạn luôn mà không giao lấy một hạt thóc cho bạn.

    Với một giao dịch về quyền chon như vậy, thiên hạ gọi đó là một giao dich quyền chọn mua hay Call Option. Trong quyền chọn mua này,người có quyền chọn mua phải chi trả một khoản phí (Thường khoảng 0.1% trị giá quyền chọn). Người có quyền chọn mua họ sẽ thực hiện quyền chọn nếu mức giá trong tương lai thực hiện quyền chọn cao hơn giá thoả thuận trong hiện tại. Nếu mức giá nhỏ hơn, đơn giản là người mua sẽ huỷ bỏ hay không thực hiện quyền chọn đó và mất khoản phí.

    Vì vấn đề không quy định về việc giao hàng nên trên lý thuyết người ta có thể tiến hành giao dịch với nhau sản lượng lúa của cả thế giới này sản xuất trong vòng 5 năm mà không ràng buộc giao hàng cho nhau. Đon giản là thanh toán khoản chênh lệch cho nhau khi thực hiện quyền chọn.

    Tính ứng dụng trong KD chứng khoán và tiền tệ :Thị trường quyền chọn có khả năng đáp ứng rộng rãi các cá nhân kinh doanh đơn lẻ cũng như các tổ chức kinh doanh tài chính tiền tệ. Tính lợi điểm trong KD chứng khoán là không cần vốn nhiều cũng có thể tham gia thị trường quyền chọn. Thay vì bạn phải bỏ ra một khảon tiền rất lớn nào đó để mua CK của một hãng vì mục đích mua đi bán lại, bạn chỉ phải bỏ phí (Thường là trả qua Brokerage) để có quyền chọn mua những chứng khoán đó.

    Vì những khả năng phán đoán việc lên xuống về tỷ giá giữa khối tiền tệ châu Âu và đồng đô la. Nhà tỷ phú Soros, nhân vật số 1 của phố Wall (người đã đổ thêm dầu cho sự kiện khủng hoảng tài chính châu Á năm 97-98)đã kiếm 2 tỷ đôla trong vòng có 1 đêm - 1 con số đáng sợ! Cũng theo cách chơi này, một số ngân hàng như VCB có hẳn một đội ngũ chơi option trên toà nhà của họ tại Trần Quang khải và dội ngũ này kiếm không hề nhỏ khoản tiền cho VCB ), theo thông tấn xã convit news thì có 1 tên cùng tên với VL năm vừa rồi chơi option đã mang về lãi 1 giao dịch gần 1 triệu USD cho VCB.

    Các bạn có thể tham khảo thêm về option CK qua trang www.asx.com.au hoặc trang www.baillieu.com.au

    Còn tiếp Kỳ sau :Cấu trúc một giao dịch quyền chọn, Các vấn đề kỹ thuật khi tham gia chơi thị trường quyền chọn
     
    Last edited: 16 Tháng chín 2004
    #6
  7. ketoan@

    ketoan@ Thành viên hoạt động

    Bài viết:
    315
    Đã được thích:
    3
    Nơi ở:
    Bụi mận gai...
    Cảm ơn 2 anh quickquickslow và vualua về những bài viết lý thú này.
    Toàn bộ đây là liên quan đến chương trình môn 3.7 ACCA anh vualua ạ, nên anh cứ "assume" là mọi người biết cơ bản về coporate finance rồi đi.
    ketoan@ hy vọng là có thêm đủ "lửa" để "chiến đấu" với mấy môn này - em vẫn biết là rất hay nhưng ban đầu mới đọc thì khó khó là. Mong các anh chỉ dạy thêm nhiều.
     
    #7
  8. quickquickslow

    quickquickslow Thành viên thân thiết

    Bài viết:
    175
    Đã được thích:
    3
    Nơi ở:
    Farfaraway
    :0frown: Hôm nay mới để ý đến cái này của bạn ketoan@. Một câu chuyện dài đây.

    Vài lời với Vualua: Có lẽ Vualua hiểu hơi sai về mục đích của Quick khi viết những bài này. Tất cả những cái này viết ra với mục đích chính là để thảo luận những nội dung cơ bản liên quan đến một môn học cuối cùng trong ACCA thôi. Do vậy, hiểu nó như thế nào thì đã có trong text book và Quick cũng tin chắc là các bạn đang học môn này có quá thừa khả năng để hiểu các vấn đề nêu ra trong text book. Có lẽ họ hơi "lười" một chút nên kêu lên vài tiếng lấy lệ thôi.

    Mục đích những câu chuyện này là chỉ kể những sự kiện xung quanh việc đưa ra các lý thuyết này để cho bạn ketoan@ và các bạn khác đang học mấy môn này có thêm chút cảm hứng học hành. Còn đối với các bạn khác nếu có tình cờ đi ngang qua topic thì có thể xem nó là những câu chuyện kể về giới học thuật.

    Quay trở lại với ketoan@, để đi hết những issues trên thì có lẽ Quick sẽ đưa ra một dàn ý:
    1- Câu chuyện về Technical analysis và Fundamental analysis.
    2- Câu chuyện về random walk theory
    3- Lý thuyết về EMH
    4- Lý thuyết về quản lý danh mục đầu tư
    5- CAPM - Vẻ đẹp của một của một công thức
    6- So sánh CAPM và APT

    Và bây giờ ta bắt đầu với những kẻ suốt ngày dán mắt vào máy tính, phân tích các biểu đồ. Tại sao những anh chàng này lại phản đối những kẻ chỉ ngồi uống cà phê và đọc báo?
     
    #8
  9. quickquickslow

    quickquickslow Thành viên thân thiết

    Bài viết:
    175
    Đã được thích:
    3
    Nơi ở:
    Farfaraway
    Câu chuyện thứ ba- Fundamentals Analysis vs. Technical Analysis

    Nếu một ai đó hỏi bạn, bạn làm thế nào để xác định được lúc nào nên mua chứng khoán và lúc nào nên bán chứng khoán? Và loại chứng khoán nào thì nên mua? Đối với một số người, câu trả lời sẽ là tôi nhìn vào quả cầu pha lê, hay một số người khác là tôi đi xem bói. Một số người thì khẳng định rằng họ dựa theo những phân tích trên báo chí và truyền hình. Tuy nhiên, phân tích chứng khoán được phân thành hai phương pháp chính, phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật.

    Phân tích kỹ thuật (technical analysis) là phương pháp dự đoán thời điểm thích hợp để mua và bán chứng khoán. Trong khi phân tích cơ bản thường được áp dụng để lựa chọn chứng khoán phù hợp.

    Những kẻ đọc biểu đồ (chartist) là tên thường gọi của các nhà phân tích kỹ thuật. Đối với họ, cái tên công ty, ngành, tình hình tài chính của một công ty không có nghĩa lý gì hết. Tất cả những kết luận của họ về tình hình biến động giá cả của một loại chứng khoán bất kỳ đều thông qua những thông tin mà họ dịch được từ những biểu đồ biến động giá của một loại chứng khoán bất kỳ. Họ nghiên cứu biến động trong quá khứ của số lượng giao dịch và mức giá để đưa ra những dự đoán về tương lai. Những thông tin từ biểu đồ cho phép họ rút ra những kết luận về hành vi ứng xử của các nhà đầu tư và công chúng trong tương lai. Trong một căn phòng của một nhà phân tích kỹ thuật, tất cả chỉ là những biểu đồ và những con số. Một hình ảnh đáng giá bằng ngàn lời nói. Họ là những kỹ thuật gia thực sự, đối với họ, quán cafe và báo chí không chiếm chỗ được các con số và biểu đồ. Những con số và biểu đồ biết nói.

    Những nhà phân tích chứng khoán cơ bản lại chọn một phương pháp hoàn toàn đối lập, họ tin rằng, thị trường có những logic của nó và chỉ có một phần nhỏ yếu tố tâm lý. Họ không để ý nhiều đến biến động giá cả, mà họ tìm hiểu giá trị thực của các chứng khoán. Các giá trị kinh tế như cổ tức, tỷ lệ chia cổ tức, mức lãi suất, rủi ro của từng chứng khoán, có ý nghĩa lớn đối với họ. Các thông tin về tình hình tài chính của công ty, ngành công nghiệp, và các thông tin về các biến kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng lớn đến giá trị của cổ phiếu. Do vậy việc cập nhật thông tin hàng ngày qua các kênh thông tin khác nhau là vô cùng quan trọng. Thông qua các thông tin này, họ đánh giá giá trị thực của cổ phiếu. Và nhiều người trong số họ tin rằng những nhà phân tích kỹ thuật là những kẻ dở người.

    Hai trường phái phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản đều có những mặt mạnh và điểm yếu, tuy nhiên, nếu kết hợp cả hai phương pháp để lựa chọn những chứng khoán phù hợp và thời điểm mua bán phù hợp thì sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán là nơi mà tất cả những người tham gia cuộc chơi đều mong giành thắng lợi. Điều này có thể được chăng?
     
    Last edited: 22 Tháng chín 2004
    #9
  10. quickquickslow

    quickquickslow Thành viên thân thiết

    Bài viết:
    175
    Đã được thích:
    3
    Nơi ở:
    Farfaraway
    Câu chuyện thứ tư: Bước chân vô định trên thị trường chứng khoán

    Mùa thu năm 1973, Malkiel Burton, nhà kinh tế học nổi tiếng của trường đại học Princeton-Mỹ, đã xuất bản cuốn sách "A random walk down Wallstreet" (Cái này có lẽ mời các bạn thử dịch ra tiếng Việt, giải thưởng sẽ là một cái post card thật đẹp do ketoan@ trao). Cuốn sách nhanh chóng trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất nước Mỹ. Cuốn sách liên tục được cập nhật và tới nay đã tái bản tới lần thứ 8. Đối với các nhà đầu tư, đây là một cuốn sách hay thảo luận chi tiết về thị trường chứng khoán và lý thuyết về đầu tư và quản lý rủi ro.

    Trong cuốn sách, Malkiel có đề cập đến một lý thuyết cơ bản về biến động của giá chứng khoán. Theo lý thuyết này, giá cả của chứng khoán trên thị trường biến động một cách ngẫu nhiên, vô định hình và không tuân theo bất kỳ một quy luật nào cả. Đây là một lý thuyết rất khó được chấp nhận đối với các nhà đầu tư. Họ cố tin rằng, giá cả chứng khoán sẽ biến động theo một quy luật nào đó, và nhiệm vụ của họ là tìm ra quy luật này. Tuy nhiên mọi nỗ lực dường như thất bại. Con người không phải lúc nào cũng đúng.

    Lý thuyết về tính ngẫu nhiên của giá cả chứng khoán có tính đối lập với việc phân tích kỹ thuật. Tuy nhiên, một câu hỏi đặt ra là, nếu giá cả là ngẫu nhiên, tại sao các nhà phân tích kỹ thuật lại mất công vào tìm ra quy luật của chúng? Và tại sao người ta vẫn tin vào các chuyên viên phân tích kỹ thuật? Malkiel tin rằng, những người này chính là những người nuôi hy vọng và tác động tâm lý cho những người tham gia vào thị trường chứng khoán.
     
    Last edited: 1 Tháng mười 2004
    #10
  11. ketoan@

    ketoan@ Thành viên hoạt động

    Bài viết:
    315
    Đã được thích:
    3
    Nơi ở:
    Bụi mận gai...
    Quick quả là giỏi "scanning" "your student mind"......
    Anyway thì những thứ này rất trừu tượng nên rất cần những "lectures" lý thú như thế này của Quick mà.
    Thank Quick nhiều.......
     
    #11
  12. quickquickslow

    quickquickslow Thành viên thân thiết

    Bài viết:
    175
    Đã được thích:
    3
    Nơi ở:
    Farfaraway
    Lý thuyết thị trường hiệu quả - EMH

    Nếu bạn ở Việt Nam, có lẽ bạn hiếm khi nghe thấy người ta nói về thị trường hiệu quả. Vậy mà đây là một khái niệm căn bản và ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định đầu tư cũng như quyết định tài chính trong doanh nghiệp ở các thị trường phát triển.

    Vậy, thế nào là lý thuyết thị trường hiệu quả?

    Lý thuyết thị trường hiệu quả nói rằng, giá cả chứng khoán sẽ phản ánh đầy đủ thông tin về loại chứng khoán đó, khi có thông tin mới, giá cả thị trường sẽ tự động thay đổi nhằm phản ánh tác động của thông tin mới.

    Theo đó, thị trường có thể được phân thành ba loại cơ bản: YẾU (WEAK), TRUNG BÌNH (SEMI STRONG) và MẠNH (STRONG)

    (To be continued)
     
    #12
  13. hlinhvuong

    hlinhvuong Thành viên sơ cấp

    Bài viết:
    11
    Đã được thích:
    0
    Nơi ở:
    vietnam
    Chào anh quickquick , những bài viết của anh hay thật. Dàn bài anh sẽ đi toàn là những môn cao cấp. Em biết những chủ đề này là mênh mông, phức tạp và có quá nhiều tranh luận. Em có học qua những chủ đề này nhưng thực còn quá nông cạn. Mấy câu chuyện của anh giúp em vững hơn. Nhân tiện Quickquick có thể đưa ra những lý thuyết hiện đại, tranh luận mới xung quanh chủ đề đó để anh em nào thích có thể nghiên cứu sâu hơn.

    PS : Khi nào rảnh anh có thể đàm đạo về Quản lí danh mục và technicanalyze
    được không!
     
    #13
  14. iso

    iso Thành viên hoạt động

    Bài viết:
    222
    Đã được thích:
    1
    Cho tớ hỏi tý không hiểu quyển này nó viết về cái gì nhỉ Quick nhỉ?

    A Non-Random Walk Down Wall Street
    http://pup.princeton.edu/books/lo/
     
    #14
  15. quickquickslow

    quickquickslow Thành viên thân thiết

    Bài viết:
    175
    Đã được thích:
    3
    Nơi ở:
    Farfaraway
    Hôm nay ngồi làm bài xin trả nợ người cho ketoan@, ISO và ngày mai ca bài hát dành cho em Anhchuot vậy.

    Nói tiếp về lý thuyết thị trường hiệu quả cái nhỉ. Lý thuyết thị trường hiệu quả được Fama tổng kết vào năm 1970. Bài viết thị trường hiệu quả được đăng trên tờ Journal of Finance (lưu ý, hầu hết các lý thuyết mới hoặc các cống hiến quan trọng cho khoa học được đăng trên các journal nổi tiếng. Journal of Finance là một trong ba Journal hàng đầu trong lĩnh vực finance, nơi chỉ đăng các bài nghiên cứu có original idea. Hầu hết các lý thuyết quan trọng về finance trong thế kỷ 20 được đăng trên tờ journal này).

    Lý thuyết thị trường hiệu quả yếu chỉ ra giá cả phản ánh tất cả các thông tin trong quá khứ, trong khi thị trường hiệu quả trung bình nói rằng giá cả chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin chung (public) có thể có. Cuối cùng thì thị trường hiệu quả mạnh nói rằng giá cả chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin có sẵn, cả thông tin chung và thông tin riêng.

    Vậy lý thuyết thị trường hiệu quả có ý nghĩa như thế nào? Thứ nhất nó cho biết mức độ nhạy cảm của thị trường với thông tin và cho phép nhà đầu tư có thể có cơ hội kiếm những siêu lợi nhuận do thông tin của họ hay không. Việc kiểm định tính hiệu quả của thị trường trở thành một lĩnh vực rộng lớn cho các nhà nghiên cứu thực hiện các nghiên cứu kiểm tra của mình. Tuy nhiên, năm 1991, Fama chỉ ra rằng rất khó có thể khẳng định được thị trường hiệu quả hay không do việc kiểm định tính hiệu quả của thị trường thường được thực hiện thông qua một mô hình định giá. Do vậy, vấn đề mô hình không phù hợp sẽ gây nhiễu cho kết luận.

    Đối với một thị trường thực sự hiệu quả, các nhà đầu tư sẽ không có cơ hội kiếm siêu lợi nhuận do giá cả đã nhanh chóng cập nhật thông tin mới xuất hiện trên thị trường, do vậy, các nhà đầu tư chỉ có thể kiếm lợi nhuận bằng mức lợi nhuận trung bình của thị trường.
     
    #15
  16. quickquickslow

    quickquickslow Thành viên thân thiết

    Bài viết:
    175
    Đã được thích:
    3
    Nơi ở:
    Farfaraway
    To ISO,

    Mình cũng có xem qua cuốn của Lo và McKinlay, thực ra cuốn đó hoàn toàn dùng kinh tế lượng và các model để test EMH, đồng thời cũng phủ nhận model Random Walk. Nếu ISO học finance, ISO sẽ học một số model như time series để dự báo, trong đó một model điển hình của time series là random walk model trong dự báo giá cả chứng khoán. Tuy nhiên, bằng việc dùng empirical research, Lo and McKinlay nói rằng giá cả cũng có những quy luật nhất định và các thông tin trong quá khứ cũng như hiện tại có ảnh hưởng quan trọng. Nghiên cứu của Lo và Mckinlay mang tính kinh tế lượng nhiều hơn, trong đi quyển của Burton có tính chất khác hẳn. Thực ra, người ta biết đến Lo và Mckinlay trong vấn đề "data snooping" nhiều hơn. Nhưng cái này chắc là out of scopes nhỉ?

    To erpvn: quan điểm của tôi là nếu bác trao đổi thì bác phải nói bác biết cái gì rồi và bác muốn biết thêm cái gì, hoặc bác thích cụ thể cái gì. Còn viết một câu chung như bác, tôi e là hơi khó. Cái này cũng giống như nhiều bạn khác trên diễn đàn, cứ hỏi để mà hỏi, trả lời hay không cũng không sao. Như thế thì không gọi là trao đổi.
     
    #16
  17. quickquickslow

    quickquickslow Thành viên thân thiết

    Bài viết:
    175
    Đã được thích:
    3
    Nơi ở:
    Farfaraway
    4- Lý thuyết về quản lý danh mục đầu tư.

    Có một câu nói rất nổi tiếng trong giới đầu tư là "Không bao giờ bỏ tất cả trứng vào một giỏ". Và một nguyên tắc vàng trong đầu tư là "Rủi ro luôn đi kèm với lợi nhuận". Vậy, đưa hai vấn đề trên ra, chúng liên quan đến nhau như thế nào trong lý thuyết quản lý danh mục đầu tư (Portfolio management)

    (To be continued)
     
    #17
  18. quickquickslow

    quickquickslow Thành viên thân thiết

    Bài viết:
    175
    Đã được thích:
    3
    Nơi ở:
    Farfaraway
    Bất cứ một khoản đầu tư nào đều có rủi ro của nó. Rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn. Do vậy nếu bạn có ý định đầu tư vào thị trường chứng khoán, tuỳ theo bạn là người ưa thích rủi ro hay là người muốn đầu tư an toàn, bạn sẽ có thể đầu tư vào các loại chứng khoán khác nhau trên thị trường. Tuy nhiên, dù cho bạn là loại người thứ hai, nhưng bạn chỉ đầu tư vào một loại chứng khoán nhất định, rủi ro của bạn vẫn lớn khi công ty mà bạn mua cổ phiểu làm ăn thất bát hoặc ngành công nghiệp mà bạn đang đầu tư vào đang trong thời kỳ suy thoái. Ở đây, nguyên tắc "không bao giờ để tất cả trứng trong cùng một giỏ được tận dụng triệt để". Bạn có thể giảm mức rủi ro của mình bằng cách đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau, bằng cách đó, bạn đã làm được hai việc: Một là đa dang hoá rủi ro đầu tư, hai là thiết lập và quản lý một danh mục đầu tư. Tại sao bạn lại có thể giảm rủi ro bằng cách đầu tư vào nhiều cổ phiếu khác nhau?

    Có hai lý do để giải thích cho việc trên. Thứ nhất, cũng giống như việc bỏ trứng vào một rỏ, nếu cái rỏ rơi, thì toàn bộ trứng của bạn sẽ bị vỡ. Thứ hai, Markowitz chứng minh được rằng, các chứng khoán có một tương quan mật thiết với nhau, các mối tương quan về rủi ro này có thể thuận chiều hoặc ngược chiều, tuy nhiên bằng việc tìm ra một tỷ lệ thích hợp, rủi ro của danh mục đầu tư có thể giảm rất nhiều so với rủi ro của từng chứng khoán riêng rẽ trong khi vẫn cho mức lợi tức tương đương. Markowitz chỉ ra rằng nếu thành lập một danh mục đầu tư, thì sẽ tồn tại một đường cong mà các danh mục đầu tư nằm trên đường cong đó sẽ mang lại mức lợi tức lớn nhất trên cùng một mức rủi ro hoặc cho phép danh mục đầu tư có mức rủi ro thấp nhất trên cùng một mức lợi tức. Đường cong này được gọi là đường cong hiệu quả đầu tư của Markowitz.

    Một câu hỏi đặt ra là liệu ta có thể giảm thiểu rủi ro tới mức tổi thiểu bằng không được không? Câu trả lời là không.

    Trên lý thuyết, ta có thể thiết lập một danh mục đầu tư có mức rủi ro thấp nhất bằng cách kết hợp toàn bộ các loại chứng khoán trên toàn bộ thế giới theo tỷ lệ cấu thành của nó trên tổng giá trị chứng khoán trên thế giới. Tuy nhiên, điều này là không thể làm được. Vậy rủi ro của một danh mục đầu tư là gì?

    Về cơ bản, chúng gồm hai phần, phần rủi ro không thể đa dạng được do đặc tính của thị trường, của nền kinh tế mỗi quốc gia và phần rủi ro có thể đa dạng được bằng cách thay đổi cấu phần của danh mục đầu tư. Do vậy, rủi ro thấp nhất đổi với một danh mục đầu tư chính là phần rủi ro không thể đa dạng được.

    Vậy nhiệm vụ của nhà đầu tư là áp dụng các phương pháp tối ưu để xác định được danh mục đầu tư tối ưu nằm trên đường cong đầu tư hiệu quả của Markowitz. Vậy lý thuyết quản lý danh mục đầu tư có gì liên quan đến lý thuyết thị trường hiệu quả, CAPM và các lý thuyết khác?

    (To be continued)

    Quickquickslow.
     
    #18
  19. erpvn

    erpvn Don't know what is erp!

    Bài viết:
    416
    Đã được thích:
    0
    Nơi ở:
    Miền đất hứa
    Capm

    Lão Quick đi vắng tớ lẻn vào làm quả về CAPM xem sao...

    CAPM - Capital asset pricing model - Mô hình định giá tài sản vốn, là mô hình mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng. Mô hình này do William Sharpe phát triển từ những năm 1960 và đã được ứng dụng từ đó đến nay. Mặc dù còn có một số mô hình khác nỗ lực giải thích động thái thị trường nhưng mô hình CAPM là mô hình đơn giản về mặt khái niệm và có khả năng ứng dụng sát thực với thực tiễn.

    Nội dung của mô hình này là lợi nhuận kỳ vọng bằng lợi nhuận không rủi ro (risk-free) cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro toàn hệ thống của chứng khoán đó.

    Có thể nói CAPM là một nổ lực hết sức thành công đầu tiên đã chỉ ra rằng làm thế nào đánh giá rủi ro từ một cơ hội đầu tư tiềm năng và để ước lượng tỉ suất sinh lợi mong đợi mà nhà đầu tư đòi hỏi khi đầu tư. Những cuộc kiểm tra trên thực tiễn cũng đã ủng hộ mô hình CAPM, CAPM không thực hiện một cách chính xác như người ta mong muốn.

    Từ đó những nhà nghiện cứu đã tranh luận để tìm xem CAPM sai chỗ nào?

    Nên chăng bỏ CAPM để phát triển một mô hình mới?

    Liệu CAPM có thể được bổ sung hoàn chỉnh?


    Quick và @ có cao kiến gì về những câu hỏi in nghiên nhỉ? có nên ủng hộ hay thay thế CAPM bởi mô hình khác không nhỉ? tớ chỉ có thể viết tới đó thôi... hic :wall:
     
    #19
  20. erpvn

    erpvn Don't know what is erp!

    Bài viết:
    416
    Đã được thích:
    0
    Nơi ở:
    Miền đất hứa
    Cô giáo @ với TS. QQS đi đâu mất dạng vậy kìa, các bác có thể vô trang nhà của tác giả hay vô đây để xem mô hình hoặc click here xem tạm trong khi chờ đợi bài giảng của cô giáo @ và TS. QQS...
     
    #20

Chia sẻ trang này