Phát hành trái phiếu chuyển đổi làm tăng giá trị Vietcombank!

Thảo luận trong 'Thành viên giúp nhau' bắt đầu bởi Danny Walker, 25 Tháng sáu 2005.

4,421 lượt xem

  1. Danny Walker

    Danny Walker Thành viên sơ cấp

    Bài viết:
    68
    Đã được thích:
    0
    Nơi ở:
    Troy
    Sẵn có bài báo về Vietcombank trên VNN em post lên cho mọi người cùng đọc và thảo luận.
     
    #1
  2. minh91

    minh91 Thành viên sơ cấp

    Bài viết:
    135
    Đã được thích:
    0
    Nơi ở:
    Hanoi
    Theo mình được một người trong nghề ngân hàng nói cho biết thì việc phát hành trái phiếu chuyển đổi của Vietcombank lần này còn nhằm những mục đích khác lớn hơn nhiều. Nhưng vì mình đã được yêu cầu ko tiết lộ nên các bạn thử nghĩ xem nhé. Đây là một đề tài khá hay nhưng nó lại ko liên quan đến kế toán
     
    #2
  3. NgânGiang

    NgânGiang Cố lên! Cố lên...

    Bài viết:
    202
    Đã được thích:
    0
    Nơi ở:
    Trong Mây mù
    Đề tài này hay đấy.
    Chuẩn mực số 30: Lãi trên cổ phiếu (Chuẩn bị phát hành)
    có nói đến tác dụng của phát hành thêm cổ phiếu và sự suy giảm lãi trên cổ phiếu. Các bạn xem thêm và cho những nhận xét cá nhân nhé.
     
    #3
  4. NgânGiang

    NgânGiang Cố lên! Cố lên...

    Bài viết:
    202
    Đã được thích:
    0
    Nơi ở:
    Trong Mây mù
    Bạn ơi, có nhiều người làm ở phòng gọi là "Tài chén - Khéo tán", như thế cũng cần quan tâm chứ. Rồi hạch toán ra sao nữa, cần cho các kế toán chứ.
     
    #4
  5. Danny Walker

    Danny Walker Thành viên sơ cấp

    Bài viết:
    68
    Đã được thích:
    0
    Nơi ở:
    Troy
    Trước tiên cho hỏi về off-balance-sheet items thì sao??? Nó có được tính vào cái capital adequacy ratio hay không?
     
    #5
  6. anhtuan709

    anhtuan709 Thành viên sơ cấp

    Bài viết:
    18
    Đã được thích:
    0
    Nơi ở:
    TP Vinh - Nghệ An
    Vấn đề đang tranh cải

    Tuấn này vừa học TCDN ra mà.
    Đây là một vấn đề hay để thảo luận đấy chứ. Dân TCDN của ĐH Kinh Tế TP. HCM K26, chắc không thể quên cái ngày mà 3 giảng đường học chung ở HTL.
    Các bạn nhớ không? Lý thuyết MM, vay nợ ảnh hưởng như thế nào đến giá trị của doanh nghiệp.
    Và tất nhiên theo MM giá trị của doanh nghiệp không thay đổi.
    Bạn quan tâm vấn đề này. Hãy tham khảo thêm lý thuyết MM nha. Vì lâu quá rồi không còn ôm cuốn TCDN nữa nên nhắc lại nghe nhớ ghê!!
    Mình cũng về xen lại mới được.
     
    #6
  7. Phuong Giang

    Phuong Giang Thành viên sơ cấp

    Bài viết:
    7
    Đã được thích:
    0
    Nơi ở:
    Hanoi
    Với những gì được biết về phương án CPH Vietcombank, sự khẳng định “phát hành trái phiếu chuyển đổi chắc chắn sẽ làm tăng giá trị của Vietcombank” của Ông Du hay “phát hành trái phiếu chuyển đổi để tăng vốn tự có, xử lý nợ xấu, đưa giá trị Vietcombank lên mức tốt hơn” của Ông Nghĩa là thiếu cơ sở và không nên vì sẽ tác động một cách không hợp lý đến quyết định của công chúng đầu tư. Phát hành trái phiếu chuyển đổi có thể cải thiện tỷ lệ đủ vốn (CAR) của Vietcombank theo cách tính của Basel, nhưng không giải quyết ngay được bài toán vốn tự có trong cơ cấu tài chính doanh nghiệp.


    Quy ước Basel năm 1988 quy định một ngân hàng thương mại phải đáp ứng hai tỷ lệ đủ vốn: tỷ lệ vốn cấp 1 (≥4%) và tỷ lệ tổng vốn (≥8%). Cả hai tỷ lệ này đều có chung mẫu số là tổng tài sản điều chỉnh rủi ro (RWA); còn về tử số, tổng vốn = vốn cấp 1 + vốn cấp 2. Thêm vào đó, vốn cấp 2 không được vượt quá 50% tổng vốn, hay vốn cấp 2 chỉ được phép ≤ vốn cấp 1.


    Theo quy định của Basel, cần khẳng định rằng, vốn cấp 1, chủ yếu là vốn cổ phần (equity stock capital) và các khoản dự trữ được công bố (disclosed reserves), chính là vốn tự có; còn vốn cấp 2, gồm các khoản dự trữ không công bố (undisclose reserves) và các công cụ nợ thứ hạng thấp (subordinated debts), chỉ là phần vốn bổ sung (supplementary capital) trong cách tính tỷ lệ đủ vốn chứ ngay Basel cũng không coi vốn cấp 2 là vốn tự có, và cũng không có một hệ thống kế toán nào thừa nhận một khoản nợ là vốn tự có.


    Như vậy, ngay sau khi Vietcombank phát hành trái phiếu chuyển đổi (kỳ hạn 5-7 năm), số tiền thu được sẽ làm tăng vốn cấp 2 theo đó có thể làm tăng tỷ lệ tổng vốn, nhưng không hề cải thiện được tỷ lệ vốn cấp 1. Nghĩa là, nếu Vietcombank có tỷ lệ vốn cấp 1<4% thì việc phát hành trái phiếu này không thể giúp Vietcombank đáp ứng quy định về tỷ lệ vốn cấp 1 của Basel, và như vậy cho dù tỷ lệ tổng vốn có được cải thiện thì Vietcombank vẫn không thể đạt 8% theo yêu cầu.


    Trường hợp xấu hơn, giả sử Vietcombank có vốn cấp 1 là 3% và vốn cấp 2 đã đạt tới giới hạn 100% vốn cấp 1 (3%) thì việc phát hành trái phiếu chẳng cải thiện được tỷ lệ đủ vốn nào cả, bởi khi đó số tiền thu được từ phát hành trái phiếu sẽ không được tính vào cả vốn cấp 1 lẫn vốn cấp 2. Việc phát hành trái phiếu này chỉ thực sự có ý nghĩa nếu Vietcombank hiện có vốn cấp 2 < vốn cấp 1 và tỷ lệ vốn cấp 1≥4%.


    Điều này cho thấy vốn cấp 1, hay vốn tự có, hết sức quan trọng, vì: (i) quy mô vốn cấp 1 quyết định quy mô vốn cấp 2, theo đó quyết định các tỷ lệ đủ vốn; (ii) chỉ vốn cấp 1 mới có thể sử dụng để xóa những khoản nợ xấu (NPLs); (iii) vốn cấp 1 không chứa đựng những rủi ro (ví dụ: rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường) như những khoản nợ dài hạn trong cơ cấu vốn cấp 2; và (iv) trong thực tế, vốn cấp 2 có thể được tạo ra một cách dễ dàng hơn so với vốn cấp 1 bằng những thủ thuật tài chính.


    Phát hành trái phiếu chuyển đổi có thể giúp cải thiện tính thanh khoản và hiệu quả kinh doanh, nếu Vietcombank có cơ chế quản lý rủi ro hữu hiệu. Trên lý thuyết, việc huy động được một khoản nợ dài hạn như phát hành trái phiếu 5-7 năm sẽ giúp Vietcombank giảm bớt sự mất cân đối giữa việc “nhận tiền gửi ngắn hạn, cho vay dài hạn” thường thấy ở một ngân hàng thương mại. Còn trong thực tiễn, điều này chỉ xảy ra nếu Vietcombank không dùng khoản tiền huy động đó để thực hiện các dự án cho vay dài hạn hơn, hoặc ít ra không kéo dài thêm thời gian đáo hạn thực tế (duration) của danh mục cho vay hiện hành.


    Thuộc tính chuyển đổi của trái phiếu đúng là một thứ “mật ngọt” hấp dẫn người đầu tư để Vietcombank có thể phát hành trái phiếu với lãi suất danh nghĩa có lợi, nhưng chưa chắc có thể “nâng cao hiệu quả kinh doanh”. Bài toán mà Vietcombank sẽ phải đối mặt là việc xác định mức giá chuyển đổi sang cổ phiếu, trong khi cổ phiếu Vietcombank chưa được phát hành. Nếu mức giá chuyển đổi được đặt quá cao, trái phiếu Vietcombank sẽ khó hấp dẫn được người đầu tư; còn nếu đặt thấp, phần chênh lệch giữa giá chuyển đổi (thấp) và giá thị trường (cao hơn) của cổ phiếu trong tương lai sẽ là một khoản chi phí phụ trội khác khi xác định lãi suất thực tế của khi huy động bằng trái phiếu chuyển đổi. Như vậy, chưa chắc lãi suất huy động thực tế “có lợi” hơn để mang lại sự chênh lệch lãi suất đầu ra-đầu vào cho Vietcombank. Hiệu quả kinh doanh không phải là kết quả của một yếu tố duy nhất.


    Trên thực tế, Quy ước Basel năm 1988 đã cho thấy những bất cập của nó, khi việc xác định tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro (RWA) chỉ tập trung vào rủi ro tín dụng (credit risk) mà không tính đến những yếu tố khác như rủi ro thị trường (market risk) hay rủi ro hoạt động (operational risk) - những yếu tố rủi ro khác có thể làm cho ngân hàng mất tài sản, mất vốn, hoặc sụp đổ. Điều này dẫn đến hệ quả là để đáp ứng quy định về đủ vốn, ngân hàng thương mại có thể chấp nhận mức độ rủi ro cao hơn để thực hiện chính sách cho vay mạo hiểm nhằm gia tăng lợi nhuận và làm giảm RWA - mẫu số trong công thức tính tỷ lệ đủ vốn. Nghĩa là, việc đáp ứng được tỷ lệ đủ vốn theo cách tính của Basel 1988 chưa chắc đã cải thiện được mức độ an toàn trong cơ cấu tài chính hay giá trị của ngân hàng thương mại. Sự bất cập này đã được Ủy ban Basel thừa nhận và tìm cách giải quyết khi đưa ra quy ước sửa đổi năm 1996 để tính đến rủi ro thị trường, và đặc biệt là Quy ước Basel Mới, hay còn gọi là Basel II, sẽ chính thức có hiệu lực vào cuối năm 2006, để tính đến cả rủi ro hoạt động.


    Tóm lại, có nhiều tham số chưa xác định xoay quanh việc phát hành trái phiếu của Vietcombank. Khi không có số liệu cụ thể thì mọi điều khẳng định chỉ là sự phỏng đoán thiếu cơ sở. Công chúng đầu tư sẽ đánh giá và tham gia mua trái phiếu cũng như cổ phiếu của Vietcombank dựa trên độ tin cậy, rõ ràng và thuyết phục của thông tin liên quan đến đợt phát hành.


    Trái phiếu chuyển đổi là một loại công cụ hữu hiệu, nhưng “phép màu” nó có thể mang lại cho Vietcombank không thuần túy xuất phát từ việc phát hành mà là từ việc nó được thiết kế và sử dụng như thế nào trong một bối cảnh cụ thể. Với những ai am hiểu thị trường tài chính, chỉ có một thứ “chắc chắn” trên thị trường này: sự rủi ro.
     
    #7

Chia sẻ trang này