Trích nguyên văn bài của văn phòng luật sư pháp quyền
http://www.luatsuphapquyen.com/comp...,80/limit,5/limitstart,0/order,hits/dir,DESC/
THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ
1)- Khái niệm :
Thoả ước tập thể được áp dụng ở các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các cơ quan, tổ chức nước ngoài và quốc tế đặt tại Việt Nam (không áp dụng đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính sự nghiệp). Thoả ước tập thể do đại diện của tập thể lao động và người sử dụng lao động thương lượng và ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và công khai.
2)- Đại diện các bên và thẩm quyền ký kết :
Đại diện thương lượng thoả ước của hai bên gồm : Bên tập thể lao động là Ban chấp hành Công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành Công đoàn lâm thời. Bên người sử dụng lao động là giám đốc doanh nghiệp hoặc người được uỷ quyền theo điều lệ tổ chức doanh nghiệp hoặc có giấy uỷ quyền của Giám đốc doanh nghiệp. Số lượng đại diện thương lượng thoả ước tập thể của các bên do hai bên thoả thuận. .
Đại diện ký kết thoả ước của bên tập thể lao động là Chủ tịch Ban chấp hành Công đoàn cơ sở hoặc người có giấy uỷ quyền của Ban chấp hành Công đoàn. Đại diện ký kết thoả ước của bên người sử dụng lao động là Giám đốc doanh nghiệp hoặc người được có giấy uỷ quyền của Giám đốc doanh nghiệp.
Việc ký kết thoả ước tập thê chỉ được tiến hành khi có trên 50% số người của tập thể lao động trong doanh nghiệp tán thành nội dung thoả ước đã thương lượng.
3)- Nội dung chủ yếu :
Nội dung chủ yếu của thoả ước tập thể gồm những cam kết về việc làm và bảo đảm việc làm; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp lương; định mức lao động; an toàn lao động; vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội đối với người lao động.
Thoả ước tập thể đã ký kết phải làm thành bốn bản, trong đó: Một bản do người sử dụng lao động giữ, một bản do Ban chấp hành Công đoàn cơ sở giữ; một bản do người sử dụng lao động gửi đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày ký.
4)- Trách nhiệm thực hiện :
Mọi người trong doanh nghiệp, kể cả người vào làm việc sau ngày ký kết đều có trách nhiệm thực hiện đầy đủ thoả ước :
Trong trường hợp quyền lợi của người lao động đã thoả thuận trong hợp đồng lao động thấp hơn so với thoả ước, thì phải thực hiện những điều khoản tương ứng của thoả ước. Mọi quy định về lao động trong doanh nghiệp phải được sửa đổi cho phù hợp với thoả ước. Khi một bên cho rằng bên kia thi hành không đầy đủ hoặc vi phạm thoả ước, thì có quyền yêu cầu thi hành đúng thoả ước và hai bên phải cùng nhau xem xét giải quyết, nếu không giải quyết được thì các bên có quyền yêu cầu cơ quan chức năng giải quyết.
5)- Hiệu lực và thời gian ký kết lại :
Thoả ước tập thể có hiệu lực kể từ ngày hai bên thoả thuận ghi trong thoả ước. Trường hợp hai bên không thoả thuận thì thoả ước có hiệu lực kể từ ngày ký. Khi thoả ước đã có hiệu lực, người sử dụng lao động phải thông báo cho mọi người lao động trong doanh nghiệp biết.
Thoả ước tập thể được ký kết với thời hạn từ một năm đến ba năm. Đối với doanh nghiệp lần đầu tiên ký thoả ước thì có thể ký với thời hạn dưới một năm. Chỉ sau ba tháng thực hiện, kể từ ngày có hiệu lực đối với thoả ước thời hạn dưới một năm và sau sáu tháng đối với thoả ước thời hạn từ một năm đến ba năm, các bên mới có quyền yêu cầu sửa đổi, bổ sung thoả ước.
Trước khi thoả ước hết hạn, hai bên có thể thương lượng để kéo dài thời hạn hoặc ký kết thoả ước mới. Khi thoả ước hết hạn mà hai bên vẫn tiếp tục thương lượng, thì thoả ước vẫn có hiệu lực. Nếu quá ba tháng kể từ ngày thoả ước hết hạn mà thương lượng không đi đến kết quả, thì thoả ước đương nhiên hết hiệu lực.
6)- Sự vô hiệu của thỏa ước tập thể :
Thoả ước tập thể bị coi là vô hiệu từng phần khi một số điều khoản trong thoả ước trái với quy định của pháp luật. Thoả ước thuộc một trong các trường hợp sau đây bị coi là vô hiệu toàn bộ: Toàn bộ nội dung thoả ước trái pháp luật, người ký kết thoả ước không đúng thẩm quyền, không tiến hành theo đúng trình tự ký kết.